Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Lục Vân Tiên gặp nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)

Hướng dẫn soạn văn 9 – soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 9 | Soạn văn lớp 9 | Soạn văn 9 Bài 9 | Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên) | Tài Liệu Chùa

I. KIẾN THỨC CƠ BN:

Vị trí đoạn trích bài Lục Vân Tiên gặp nạn: Nằm phần thứ 2 của truyện, lúc Vân Tiên đang vơ đất khách. Lục Vân Tiên gặp lại Trịnh Hâm bạn học đi thi về, vốn lòng đổ kị, ganh ghét về tài, đức, Trịnh Hâm nhân hội này hãm hại Vân Tiên. Hắn lừa tiều đồng của Vân Tiên vào rừng, trói lại rồi tìm kế đưa Vân Tiên xuống thuyền, chờ đêm tối ra tay.

Chủ đề đoạn trích: Qua sự đối lập giữa thiện ác, tác giả thể hiện niềm tin vào những điều tốt đẹp những con người nhân nghĩa, đức độ. Trong văn chương thời trung đại, hình tượng Ngư Tiều dường như đã được định hình để chỉ những người ăn muốn trốn lánh cuộc đời, tìm về nơi thiên nhiên, nhất trong những thời buổi loạn lạc, nhiễu nhương, nhiều người trí thức lương tri thường cam phận Ôm tài giấu tiếng làm Tiều, làm Ngư(Ngữ Tiều y thuật vấn đáp). Nguyễn Đình Chiểu vốn quen thuộc với bút pháp ước lệ cổ điển đó, cho nên qua những lời nói của ông Ngư, ông Tiều, ta vẫn thấy bóng dáng của một ẩn hơn một người lao động bình thường (Kinh luân đã sn trong tay). Tuy nhiên, cảm xúc của người đọc, người nghe đối với những hình tượng này không hoàn toàn thế.

Họ hiện diện giữa đời, sống trong sạch, thanh thản, khinh ghét sự đen bạc, tráo trở, sự bạo ngược hung tàn bao giờ cũng mặt đúng lúc để cứu giúp người hoạn nạn với tấm lòng trọng nghĩa khinh tài: Xin tròn nhân nghĩa còn hơn bạc vàng. Đúng như nhà thơ Xuân Diệu đã nói: Với Đồ Chiểu, những người lao động ấy cũng những người tài, ghét đời ô trọc, mai danh ẩn tích.

II. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 1. (sgk tr.121)

Đoạn trích này, chủ ý muốn phê phán cái ác, đề cao cái thiện, đồng thời thể hiện tin vào những điều tốt đẹp đời.

Câu 2. (sgk tr.121)

Chỉ qua bốn câu thơ lục bát, tác giả đã nêu được tâm địa độc ác của Trịnh Hâm:

Trịnh Hâm khi ấy ra tay.

Vân Tiên bị ngay xuống vời.

Trịnh Hân giả tiếng kêu trời.

Cho người thức dậy lấy lời phôi pha.

Trịnh Hâm quyết tâm hãm hại Vân Tiên do tính đố kị. Hắn thấy Vân Tiên người tại nên sinh lòng ganh ghét. Vân Tiên đã , hắn vẫn cố tìm cách hãm hại. Chừng như cái ác đã ngấm sâu vào người hắn, đã tạo thành bản chất của hắn.

Hành động của Trịnh Hâm thật bất nhân, bất nghĩa, tàn ác.

+ Bất nhân, tàn ác hắn đang tìm hãm hại một con người đang cơn hoạn nạn, bị mắt, không nơi nương tựa, không để chống đỡ.

Bất nghĩa Vân Tiên bạn của hắn, đã từng xướng họa thơ ca, rồi được hắn hứa hẹn: Tinh trước nghĩa sau, Người lành nỡ bỏ người đau sao đành. Thế cuối cùng Trịnh Hâm sạch nghĩa nhân, ra tay người bạn lòa, khốn khổ xuống sông sâu.

Giả nhân, giả nghĩa: đến lúc biết không còn ai thể cứu được Vân Tiên, Trịnh Hâm mới giả tiếng kêu trời, rồi lấy lời phôi pha để phủi sạch tội ác của mình.

Đoạn thơ tự sự gồm 8 câu thơ kể về một tội ác tày trời của một con người táng tận lương tâm, được tác giả diễn đạt thành công qua các tình tiết sắp xếp hợp , hành động diễn biến nhanh gọn, lời thơ vẫn giữ vẻ mộc mạc, giản dị chung của toàn tác phẩm.

Câu 3. (sgk tr.121)

* Trong đoạn trích này, nếu như Trịnh Tâm kẻ điển hình cho cái ác thì ông ngư lại tiêu biểu cho cái thiện. Hành động của Trịnh Hâm càng tàn ác bao nhiêu thì cách ông ngư cứu giúp Lục Vân Tiên càng đáng ca ngợi bấy nhiêu.

Thấy người bị nạn, ông ngư lập tức vớt ngay lên bờ, sau đó vi vàng tìm cách cấp cứu ông bụng dạ, mụ mặt mày.

Sau khi biết chuyện, ông ngư mời Vân Tiên lại không sợ tốn kém.

Vân Tiên ngỏ lời biết ơn nhưng ông không nhận, chỉ coi đó một việc hết sức bình thường. Quan điểm của ông Dốc lòng nhân nghĩa, chờ trả ơn. Điều này gọi chúng ta nhớ đến chi tiết khi Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga, chàng cũng không đòi hỏi sự trả ơn. ràng giữa ông ngư Vân Tiên snhất quán trong tính cách: họ đều những con người tốt bụng, nghĩa hiệp, làm ơn không bao giờ đòi hỏi được trả ơn.

Qua cách ông ngư nói về công việc, ta còn thấy ông là người yêu công việc, yêu cuộc sống. Đối với ông, lao động một niềm vui, niềm hạnh phúc:

| Kinh luận đã sẵn trong tay

| Thung dung dưới thế, vui say trong đời.

* Đoạn thơ gửi gắm khát vọng vào niềm tin về cải thiện, vào con người lao động bình thường. Nhà thơ rất trân trọng họ bởi họ biểu tượng cho cái đẹp, những con người nghèo khổ nhân hậu, vị tha, trọng nghĩa khinh tài. Nhà thơ Xuân Diệu đã nói rất đúng Cái ưu ái đối với người lao động, sự kính mến họ một đặc điểm của tâm hồn Đồ Chiểu”.

Câu 4. (sgk tr.121)

Ngư rằng: Lòng lão chẳng ,

Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang

(Nguyễn Đình Chiểu, Truyện Lục Vân Tiên,

Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, sđd)

Tám câu thơ cuối đoạn thể coi những câu thơ hay nhất. Đó lời của ông ngư nói về cuộc sống của mình. Ý tứ phóng khoáng sâu xa, lời lẽ thanh thoát uyển chuyển, hình ảnh thơ đẹp, gợi cảm. Một khoảng thiên nhiên cao rộng, khoáng đạt được mở ra với những doi, vịnh, chích, đầm, bầu trời, đất, gió trăng... Con người hoà nhập trong cái thế giới thiên nhiên ấy không chút cách biệt: hứng gió, chơi trăng, tắm a... niềm vui sống cũng dường như đầy ắp cái cõi thếcủa con người ấy (tác giả dùng rất nhiều từ chỉ trạng thái tâm hồn thanh thản, vui sống: vui vầy, thong thả, nghêu ngao, vui thầm, thung dung...) Người đọc cảm giác như chính Nguyễn Đình Chiểu đang nhập thân vào nhân vật để nói lên khát vọng sống niềm tin yêu cuộc đi của mình.

III. TÓNG KÉT

Đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn nói lên sự đối lập giữa thiện ác giữa nhân cách cao cả những toan tính thấp hèn, đồng thời thể hiện thái độ quý trọng niềm tin của tác giả đối với nhân dân lao động. Đây cũng đoạn thơ giàu cảm xúc, khoáng đạt ngôn ngữ bình dị, dân .

IV. LUYỆN TẬP

(sgk tr.121)

Trong truyện Lục Vân Tiên còn những nhân vật cao thượng như ông Ngư ông Quán, ông Tiều, lão , tiểu đồng... họ vừa những người lao động chất phát, thật thà, vừa những người trí thức ẩn dật, biết giữ gìn nhân cách, giàu lòng nhân nghĩa yêu tự do cuộc sống yêu thanh cao, Ông Ngư trong đoạn thơ này ông Tiều trong đoạn thơ sau cùng một cách nói giống nhau về cuộc sống của mình.

Tiều rằng: Vốn lão tinh không.

Lộc rùng gánh vác hại vài tháng ngày.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa