Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Thúy Kiều báo ân báo oán (Trích Truyện Kiều)

Hướng dẫn soạn văn 9 – soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán (Trích Truyện Kiều)

Thuộc mục lục Soạn văn 9 | Soạn văn lớp 9 | Soạn văn 9 Bài 1 | Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán (Trích Truyện Kiều)

I. KIẾN THỨC CƠ BN:

Trải qua “hết nạn nọ đến nạn kia”, Kiều đã nếm đủ mọi điều đắng cay, tưởng nàng phải buông xuôi trước số phận: “Biết thân chạy chẳng khỏi trời – Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh”. Chính lúc Kiều vô vọng thì Từ Hải xuất hiện. Kiều gặp Từ Hải, một bước ngoặt quan trọng đã mở ra trên hành trình số phận người con gái họ Vương. Người anh hùng đội trời đạp đất chẳng những cứu Kiều thoát khỏi cuộc sống lầu xanh mà còn đưa nàng từ thân phận “Con ong cái kiến” bước lên địa vị một quan toà cm cán công lí, “on đền oán trả”. Đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán miêu tả cảnh Kiều đền ơn những người đã cưu mang giúp đỡ nàng, đồng thời trừng trị những kẻ bất nhân, tàn ác. Đoạn trích đã lược bớt một số câu thơ để làm nổi bật lên cuộc đối thoại giữa Kiều và Hoạn Thư. Điều này không làm ảnh hưởng tới nội dung màn báo ân báo oán (vẫn có đền ơn trả oán).

II. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI:

Câu 1. (sgk tr.108):

– Thúc Sinh được mời tới theo quân lệnh: Cho gươm mời. Trên trường của Hải, Thúy Kiều ngôi cai nghiệm xử án. Trước những gươm lớn giáo dài, Thúc Sinh sợ đến mất cả thần sắc (mặt như chàm đố), chân mình run rây (mình dường dẽ run). Hình ảnh đáng tội nghiệp này thật phù hợp với tính cách nhu nhược của Thúc Sinh.

– Lời lẽ của Thúy Kiều đối với Thúc Sinh cho thấy lòng biết ơn trân trọng của nàng.

Kiều được Thúc Sinh chuộc ra khỏi thanh lâu ở Lâm Tri, thoát cảnh đời ô nhục, rồi được sống những ngày êm ấm với chàng Thúc. Đó là nghĩa nặng nghìn non, là tấm lòng biết ơn sâu sắc của nàng đối với người cũ thân thiết, ân tình.

+ Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng những từ Hán Việt: nga, tông, cố nhân, t,… điên cố: Sân Thương. Cách nói trang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều.

– Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nói về Hoạn Thư. Điều đó chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho Kiều đang còn quá xót xa. Lúc nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều lại hết sức nôm na, bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc “kẻ cắp bà già gp nhau”, “kiến bò miệng chén” với những từ Việt dễ hiểu. Hành động trừng phạt cái ác theo quan điểm của nhân dân được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

Câu 2. (sgk tr.108):

– Hành động, lời nói của Kiều đều biểu thị thái độ mỉa mai đối với Hoạn Thư. Vẫn một điều “chào thưa”, hai điều “tiểu thư, Cách xưng hô này trong hoàn cảnh giữa Kiều và Hoạn Thư đã có sự thay đổi ngôi là một đòn mỉa mai quất mạnh vào danh gia họ Hoạn.

– Trong lời nói của Kiều có cả giọng đay nghiến khi câu thơ dằn ra từng tiếng, khi từ ngữ được lặp lại, nhấn mạnh: dễ có, dễ dàng, mấy tay, mấy mặt, mấy gan đời xưa, đời này, càng cay nghiệt, ng oan trái.. Cách nói này hoàn toàn phù hợp với đối tượng Hoạn Thư, phù hợp với con người Bề ngoài thon thót nói cười Bề trong nham hiểm giết người không dao.

Giọng điệu mỉa mai, đay nghiến của Kiều cho thấy nàng quyết trừng trị Hoạn Thự theo đúng quan niệm: Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.

Trước lời nói, thái độ của Kiều, phút giây đầu, Hoạn Thư hồn lạc, phách xiêu. Nhưng ngay trong hoàn cảnh ấy, Hoạn Thư vẫn kịp liu điều kêu ca, Đây quả một con người khôn ngoan, giảo hoạt.

Câu 3. (sgk tr.108):

Khi Kiều gặp lại Hoạn Thư, bao nhiêu hờn oán ngày xưa trở về trong hồi ức, nàng đã thốt lên với giọng mia mai xa gần. Từ lần bị đánh ghen đêm ấy, đến nay đã bao năm tháng? Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong thế của người chiến thắng ra tay báo oán, Kiều đã chào thưabằng những lời mát mẻ:

Thoắt trông nàng đã chào thưa Tiểu thư cũng bây giờ đến đây!

“Đàn bà dễ có mấy tay Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan

Dễ dàng là thói hồng nhan

Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều” Giọng nói trở nên chì chiết, đay nghiến. Các chữ “mấy tay”, “mấy gan” như những mũi kim bén nhọn:

Trước lời nói ấy, Hoạn Thư “hồn lạc phách siêu” nhưng vẫn đầy đủ bản lĩnh, bình tĩnh để: “Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca”, để gỡ tội của Hoạn Thư.

Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ: “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.

“thủ phạm” đang đứng giữa pháp trường, xung quanh là bạn đao phủ đã “gươm tuốt vắp ra”, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiều”. Người đàn bà này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình, khó lòng thoát khỏi lưỡi gươm trừng phạt: Vốn khôn ngoan, sắc sảo, đứa con của họ “họ Hoạn danh gia” đã trấn tĩnh lại, tìm cách gỡ tội. Một cái “khấn đầư” giữ lễ, khi chân tay đang bị trói. Trước hết nhận tội “ghen tuông” và lí giải đó là chuyện “thường tình của đàn bà. Tiếp theo Hoạn Thư gợi lại chút “ân tình ngày xưa: một là đã cho Kiều xuống Quan Âm các giữ chùa chép kinh”, không bắt làm thị tì nữa, hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua. Cách nói rất khéo, chỉ dùng những từ kín đáo để người trong cuộc mới hiểu. “Nghĩ cho” là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:

“Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi của dứt tình chẳng theo.”

Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: “Rằng: tài nên trọng mà tình nên thương”. Tuy “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai, nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư “kính yêu” Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng:

“Trót ng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.

Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành. Vì thế, Kiều phải “khen cho”: “Khôn ngoan đến mục nói năng phải lời”. Không thể là “người nhỏ nhen“, Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:

“Đã lòng tri quá thì nên:

Truyền quân lệnh xuống trường tiền tha ngay.

Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Tha tội Hoạn Thư, Thúy Kiều càng tỏ ra vô cùng cao thượng.

Trước hết Hoạn Thư dựa vào tâm thường tình của người phụ nữ để gtội: Rằng tôi chút phận đàn Ghen tuông thì cũng người ta thường tình. lẽ này đã xoá đi sự đối lập giữa Kiều Hoạn Thư, đưa Kiều từ vị thế đối lập trthành người đồng cảnh, cùng chung chút phận đàn bà. Nếu Hoạn Thư tội thì cũng do tâm chung của giới nữ: Chồng chung chưa dễ ai chiều cho a. Từ tội nhân, Hoạn Thư đã biện bạch để mình trở thành nạn nhân của chế độ đa thể.

+ Tiếp đến Hoạn Thư kể lại côngđã cho Kiều ra viết kinh gác Quan Âm không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn.

+ Cuối cùng Hoạn Thư nhận tất cả tội lỗi về mình, chỉ còn biết trông cậy vào tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn rộng như biển trời của Kiều: n nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Trước những lời kêu ca của Hoạn Thư, Kiều đã phải thừa nhận đây một con người Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời. Hoạn Thư đưa Kiều đến chỗ khó xử: Tha ra thì cũng may đời Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. Nàng răn đe Hoạn Thư nhưng rồi lại khoan dung độ lượng: Đã lòng tri quá thì nên. Hoạn Thư đã biết lỗi, đã xin tha thì Kiều cũng xử theo quan điểm triết dân gian Đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại

Qua cách lẽ để gỡ tội, thể thấy Hoạn Thư sâu sắc nước đờiđến quỷ quái tinh ma. Tuy nhiên việc Hoạn Thư được tha bỗng chủ yếu do tấm lòng độ lượng của Kiều. Đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán một lần nữa đã làm ngời lên tấm lòng vị tha nhân hậu của người con gái họ Vương.

Từ thân phận con người bị áp bức, đau khổ, Thúy Kiều đã trở thành vị quan toà cầm cán cân công . Đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán sự phản ánh khát vọng ước công chính nghĩa của thời đại Nguyễn Du.

Câu 4. (sgk tr.108):

Thúy Kiều tha bống Hoạn Thư những mấy do:

lời lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư khi trình bày do để cãi tội. Chính Thúy Kiều cũng phải khen thừa nhận Hoạn Thư người: Khôn ngoan đến mụVC nói năng phải lời.

Hoạn Thư cũng thừa nhận tội lỗi của mình xin mở lòng khoan hồng: Trót lòng gây chuyện chông gai. Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Thủy Kiêu tha bổng cho Hoạn Thư hợp :

Nếu Kiều vẫn không tha cho Hoạn Thư thì nàng sẽ mang tiếng người nhỏ nhen, người chấp khi kẻ tình địch đã biết nhận lỗi, đã cất lời xin: Tha ra thì cũng may đời. Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. Hơn nữa Kiều lại người rộng lượng, biết ân oán đời, chính vậy nàng tha bổng Hoạn Thư.

– Những lời cuối cùng Kiều nói với Hoạn Thư cho thấy Kiều là con người đã đánh giá đúng bản chất của Hoạn Thư (người khôn ngoan, giảo hoạt). Kiều đã vượt qua tình huống khó xử giữa tha cho Hoạn Thư và trừng trị mụ bằng chính tấm lòng khoan dung, nhân hậu của nàng. Kiều đã xử theo quan niệm dân gian: “Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại.

Câu hỏi 5*. (sgk tr.108)

– Thúy Kiều là người trong ân nghĩa. Đối với người cũ Thúc Sinh tuy nhụ nhược, thấp có thua trí đàn ”, không bảo vệ được nàng nhưng đã có công cứu nàng khỏi lầu xanh nên nàng đã đền ơn xứng đáng “Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân”. Khi xử Hoạn Thư, lúc đầu nàng kiên quyết trừng phạt, nhưng trước sự hối li và thái độ thành khẩn của Hoạn thư, Kiều đã tha bổng. Lí do cơ bản khiến Kiều tha cho Hoạn Thư chính vì nàng vốn đã có tấm lòng rộng lượng, khoan dung, nhưng do ẩn bên trong cũng tác giả muốn thể hiện tính cách ghê gớm khôn ngoan đến mực, nói năng phải lờicủa Hoạn Nương.

Tính cách của Hoạn Thư cũng những biểu hiện phong phú, đa dng nhưng một người quỷ quái tinh manhư nhận xét của Thúy Kiều. Khi Kiều kiên quyết trừng phạt những tội lỗi. Hoạn Thư đã hoảng sợ nhưng khéo léo van xin. lẽ chặt chẽ, lớp lang hợp , không chối tội, sẵn sàng nhận trừng phạt nhưng xin Thúy Kiều mở lượng khoan hồng.

III. TỔNG KÉT:

Qua ngôn ngữ đối thoại, Nguyễn Du đã làm nổi bật tính cách nhân vật Thủy Kiều và nhân vật Hoạn Thư. Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán một thể loại ước công chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân, con người bị áp bức đau khổ vùng lên cầm cán cân công ; hiền gặp lành, ác gặp áctấm lòng nhân nghĩa, cao thượng của Thúy Kiều.

Nếu mang bản viết của Thanh Tâm Tài Nhân với những chi tiết thô thiển đem đối chiếu với Truyện Kiều, ta mới thấy hết tài sáng tạo của ngòi bút Nguyễn Du, nhất cảnh báo ân báo oán. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ không kém phần uy nghiêm! Lời thoại gọn sắc đã làm nổi bật tâm , tính cách một Thúc Sinh hiền lành đến độ nhút nhát, Hoạn Thư thì khôn ngoan đến độ ranh ma, Kiều cao thượng, bao dung nhân hậu. Nguyễn Du ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh báo ân báo oán một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Truyện Kiều. Đoạn Kiều bảo ân báo oan sáng lên chói lọi như một giấc công , một giấc của muốn người bất hạnh trong chế độ phong kiến thối nát xa xưa. IV. LUYỆN TẬP

| Thúy Kiều khi bảo ân, báo cản, lúc đầu nàng quyết trừng trị Hoạn Thư nhưng trước lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư, với tấm lòng rộng lượng, nàng tha bổng cho mụ. Thái độ của Kiều đối với Hoạn Thư biểu hiện đa dạng như vậy nhưng lại rất thống nhất trong tính cách của nàng. Đó tính cách của một người phụ nữ rộng lượng, nhân hậu, khoan dung, quên mình người khác.

Tính cách của Hoạn Thư cũng những biểu hiện phong phú nhưng bản chất vẫn một con người ranh ma, giáo hoạt. Khi hành hạ Thúy Kiều đến ê chề. nhục nhã nhưng Hoạn Thư vần. Bề ngoài thon thớt nói cười. Mà trong nham hiểm giết người không cao. Khi rất thể bị Thúy Kiều trừng trị hồn lạc phách xiêu nhưng vẫn đủ tỉnh táo, khôn ngoan đến mực, nói năng phải là khiến Kiều động lòng tha bóng.

Xem thêm các bài giảng hay khác: fđfùyđfyu

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa