Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều)

Hướng dẫn soạn văn 9 – soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều)

Thuộc mục lục Soạn văn 9 | Soạn văn lớp 9 | Soạn văn 9 Bài 7 | Soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều)

I. Kiến thức cơ bản:

Đoạn trích này nằm ở phần thứ hai của truyn (Gia biến và lưu lạc). Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Thúy Kiều đã tự tử nhưng không chết. Sợ mất cả Vốn lẫn lời, mụ Tú Bà xảo trá và hứa hẹn đợi Thủy Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng. Mụ đưa Kiều ra an dưỡng ở lầu Ngưng Bích để chuẩn bị đầy nàng rơi vào một âm mưu mới, thực ra là để tìm kế ép nàng ra tiếp khách làng chơi.

Tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích được diễn đạt trong 22 câu thơ trích này.

II. Gợi ý trả lời câu hỏi:

Câu 1. (sgk tr.95):

– Hai chữ “khoá xuân” cho thấy thực chất là Kiều bị giam lỏng.

– Nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng: 2 câu 14 chữ, chữ nào cũng gợi lên sự rợn ngợp của không gian: “Bốn bề bát ngát xa trông”. Cảnh “non xa”, “trăng gần” như gợi lên hình ảnh lầu Ngưng Bích chơi vơi giữa mênh mang trời nước. Từ lầu Ngưng Bích nhìn ra chi thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt, cái lầu chơi với một thân phận trơ trọi, không một bóng người, không sự giao lưu giữa người với người.

Hình ảnh “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng” “bụi hồng” có thể là cảnh thực, có thể là hình ảnh ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều.

Câu 2. (sgk tr.95):

Tình trạng đơn gần như tuyệt đối này làm dấy lên trong lòng nàng bao nỗi niềm buồn sầu, thương nhớ.

  1. a) NhKim Trọng:

Thúy Kiều 1ở chàng Kim trước, nhớ cha mẹ sau. Đấy một minh chứng cho sự cảm thông sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Du đối với nhân vật. Tác giả đã ngợi ca thiên diễm tình tự do yêu đương khi chớm nở cũng hoàn toàn cảm thông bị kịch tình yêu đổ vỡ, tan nát trái tim Thúy Kiều dường như lúc nào cũng rướm máu đau thương.

| Khi trú phường, Kiều đã bị nhục, sau đó bị ép ra tiếp khách thanh lâu Lâm Tri. Nỗi đau đớn lớn nhất của nàng tấm son gột rửa bao gicho phai. Cho nên Kiều nhớ tới Kim Trọng trước, điều này phù hợp quy luật tâm .

Nhớ tới Kim Trọng, Kiều nhớ tới quãng thời gian hai người từng hạnh phúc bên nhau, nhớ lời thề nguyền. Nàng xót xa khi tưởng tượng chàng Kim mong chờ mình một cách vọng. Nàng tưởng tượng ra cảnh chàng Kim cũng đang nhớ về mình, mong ngóng tin mình:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Thương người rồi lại thương mình. Tâm trạng Kiều đớn đau, xót xa, tủi phận:

Bên trời góc bể

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

b) Nhớ cha mẹ

Nhớ Kim Trọng tưởng nhớ cha mẹ xót. Thương cha mẹ khi sáng (mai), khi chiều (hôm) tựa cửa ngóng tin nàng. Nàng đau xót cha mẹ đã tuổi già sức yếu nàng không được gần gũi săn sóc để quạt nồng ấp lạnh.

| Thời gian cứ dần trôi. Cách mấy nắng mưa vừa chí thời gian xa cách đã bao mùa mưa nắng, vừa nói lên sức tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với cảnh vật và con người. Điển cố sân Lai, hình ảnh gốc tử trong Kinh Thị nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Gốc tử cũng vừa người ôm ẩn dụ hình ảnh của cha mẹ ngày thêm già yếu, thể hiện tấm lòng của người con hiếu thảo, thật cảm động và đáng trân trọng.

Câu 3. (sgk tr.95):

Cảnh vừa là bức tranh thiên nhiên, vừa là bức tranh tâm trạng. Đoạn tả cảnh quanh lẩu J Bích là một trong những đoạn thơ tiêu biểu nhất cho nghệ thuật miêu tả kết hợp hài hoà giữa ngoại cảnh và tâm cảnh.

Tám câu cuối thể hiện tâm trạng buồn lo của Kiều qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình:

– Diễn tả tâm trạng Kiều, Nguyễn Du đã chọn cách biểu hiện “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này. Mỗi biểu hiện của cảnh chiều tà bên bờ biển, từ cánh buồm thấp thoáng, cánh “hoa trôi man mác” đến “nội cỏ rầu rầu”, tiếng sóng âm lầm, đều thể hiện tâm trạng và cảnh ngộ của Kiều: sự cô đơn, thân phận nỗi chìm vô định, nỗi buồn tha hương, lòng thương nhớ người yêu, cha mẹ và cả sự bàng hoàng lo sợ. Đúng là cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng Kiều: cảnh từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tỉnh đến động, nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ. Ngọn gió cuốn mặt duềnh và tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi là cảnh tượng hãi hùng như báo trước dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều. Và, quả thực, ngay sau lúc này, Kiều đã mắc lừa Sở Khanh để rồi phải lâm vào cảnh “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.

III. Tổng kết:

Kiều lầu Ngưng Bích một trong những đoạn miêu tả nội tâm nhân vật thành công nhất trong truyện Kiều, đặc biệt bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ đơn, buồn tủi tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều.

IV. LUYỆN TẬP.

  1. a) Nghệ thuật biểu hiện tâm trạng nhân vật qua ngoại cảnh (tả cảnh ngụ tình)

Trong đoạn đầu, tác giả lấy cảnh thiên nhiên làm nến cho hoạt động nội tâm của nhân vật.

. Trong đoạn cuối, dùng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ với thiên nhiên để | biểu hiện phong phú sắc thái nội tâm của nhân vật.

b) Sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo .

– Vận dụng nhuần nhị những thị liệu, điển cổ: tin sương, người tựa cửa, quạt nồng ấp lạnh, sân Lai, gốc tử.

– Ngôn ngữ tinh tế (bẽ bàng), đầy màu sắc (cát vàng, bụi hồng), âm thanh Cầm ầm).

– Điệp từ và từ láy có giá trị biểu cảm cao: bát ngát, thấp thoáng, man mác, rầu rầu. Cụm từ “buồn trông” mở đầu câu thơ sáu chữ, tạo âm hưởng trầm buồn. “Buồn trông đã trở thành điệp khúc của đoạn thơ và cũng là điệp khúc của tâm trạng.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa