Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

Hướng dẫn soạn văn 9 – soạn bài chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

Thuộc mục lục Soạn văn 9 | Soạn văn lớp 9 | Soạn văn 9 Bài 1 | Soạn bài chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN:

thể đoán định Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỉ XVI, học trò giỏi của Tuyết Giang Phu TNguyễn Bỉnh Khiêm. hội phong kiến nhà Hậu , đến thời này đã bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng. Các tập đoàn phong kiến , Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây loạn lạc liên miên. Chán nản trước thời cuộc, lại chịu ảnh hưởng của thầy, sau khi đỗ hương cống, Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi về sống ẩn dật núi rừng Thanh Hoá. Đó cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết xưa.

Thể loại truyện truyền loại văn xuôi tự sự, nguồn gốc từ Trung Quốc. Các nhà văn nước ta sau này dùng thể loại này để phản ánh cuộc sống con người của đất nước mình, nổi tiếng nhất Thánh Tông di thảo (Thánh Tông), Truyền mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm)... Truyện truyền thường phỏng những cốt truyện dân gian hoặc sử vốn đã được lưu truyền trong nhân dân. Bằng tài sảng tạo của mình, sắp xếp lại tình tiết, xen kẽ những yếu tố ảo. ma quỷ, thần tiên hay yêu tinh, thủy quái... nhưng vẫn những chuyện thực. Truyền mn lục đỉnh cao của thể loại này, được xem một áng thiên cổ bút”.

Tóm tắt truyện Người con gái Nam Xương

Truyện kể về một người phụ nữ tên Thị Thiết ở huyện Nam Xương, tỉnh Nam. Vốn một người vợ xinh đẹp, nết na, đoan chính, nàng giữ lòng chung thủy, hầu hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ suốt thời gian chồng phải đi lính xa nhà. Khi trở về, người chồng nghe lời ngây thơ của con trẻ, lầm tưởng vmình thất tiết nên đánh mắng, xua đuổi. Không thể phân giải được bạn tình, nàng trầm mình xuống dòng sông Hoàng Giang. Cảm động lòng trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua biển) cứu nàng cho lại Long cung. Người chồng sau đó hối hận, lập đàn giải oan cho nàng. Nương hiện lên tạ từ chồng nơi dương thế rồi trở lại Long cung.

Đi ý: Câu chuyện vsố phận oan nghiệt của một người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh dưới chế độ phong kiến, chỉ một lời nói ngây thơ của con trẻ mà bị nghi ngờ, sỉ nhục, bị đấy đến bước đường cùng, phải tự kết liễu cuộc đời mình để bày tỏ tấm lòng trong sạch. Tác phẩm cũng thể hiện ước ngàn đời của nhân dân người tốt bao giờ cũng được đền trả xứng đáng, chỉ một thế giới huyền .

II. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI:

Câu 1. (sgk tr.51):

Đoạn 1 (từ đầu…đối với cha mẹ đẻ mình): Cuộc hôn nhân giữa Trường Sinh Nương, sự xa cách chiến tranh phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa chồng.

Đoạn 2 (Qua năm sau... nhưng việc trót đã qua rồ): Nỗi oan khuất cái chết bi thảm của Vũ Nương.

Đoạn 3 (phần còn lại): Phan Lang gặp Vũ Nương trong động Linh Phi. Nương được giải oan.

Câu 2. (sgk tr.51):

Tác giả đã đặt nhân vật Nương vào nhiều hoàn cảnh khác nhau với từng hoàn cảnh, tác giả lại sử dụng những lời lẽ đẹp đẽ để thể hiện tính cách đáng yêu, đáng quý trong cách xử của nàng.

Cảnh 1: Trong cuộc sống vợ chồng bình thường: Nàng đã xử sự như thế nào trước tình hay ghen của Trương Sinh? (Giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vchồng phải đến thất hoà).

Cảnh 2: Khi tiến chồng đi lính: Lời dặn đầy tình nghĩa của Nương: không trông mong vinh hiển, chỉ cần cho chồng bình an trv, cảm thông những nỗi vất vả, gian lao của chồng nói lên nỗi khắc khoải nhớ nhung của mình.

Cảnh 3: Khi xa chồng: Nương người thủy chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo năm tháng. Nàng còn mẹ hiền, dâu thảo, một mình vừa nuôi con nhỏ, vừa tận tình chăm sóc mẹ già những lúc yếu đau, lo thuốc thang, cầu khấn thần phật, lúc nào cũng dịu dàng, ân cần lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên n. Trong lời trăn trối của mẹ chồng, thể hiện sự ghi nhận nhân cách đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình nhà chồng. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.

Cảnh 4: Khi bị chồng nghi oan: đây ba lời thoại của Nương:

+ Lời thoại 1: Phân trần để chồng hiểu tấm lòng mình. Nương nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Qua đó ta thấy nàng đã hết lòng tìm cách hàn gắn cái hạnh phúc gia đình đang nguy tan vỡ.

+ Lời thoại 2: Nói lên nỗi đau đớn, thất vọng khi không hiểu sao lại bị đối xử bất công, bị mắng nhiếc... đánh đuổi đi, không quyền được tự bảo vệ, ngay cả khi họ hàng làng xóm bênh vực biện bạch cho. Hạnh phúc gia đình (thú vui nghị gia nghi thất), niềm khao khát của cả đời nàng đã tan vỡ, tình yêu không còn (bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen trong ao, liễu n trước gió...), cả nỗi đau khổ chờ chồng đến thành hoá đả trước đây cũng không còn thể làm lại được nữa ( đâu còn thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa).

+ Lời thoại 3: Thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã đến độ không thể nào hàn gắn được, Nương đành mượn dòng nước con sông quê hương để giải tỏ tấm lòng trong trắng của mình, nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời than rằng.... Lời than như một lời nguyền, xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất tiết sạch giá trong của nàng. Tình tiết được sắp xếp đầy kịch tính. Nương bị dồn đấy đến bước đường cùng. Hành động tự trầm mình của nàng một hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự, nỗi tuyệt vọng nhưng cũng sự chỉ đạo của trí, không phải hành động bột phát trong cơn nóng giận.

==> Sau khi phân tích qua cả bốn tình huống, ta thấy Nương một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, lại đảm đang, tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất hiếu thảo, một dạ thủy chung với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình. Một con người như thế đáng ra phải được hướng hạnh phúc trọn vẹn, vậy lại phải chết một cách oan uổng, đau đớn.

Câu 3. (sgk tr.51):

Trương Sinh trở thành một kẻ phu, thô bạo mắng nhiếc nàng đánh đuổi đi, dẫn đến cái chết oan nghiệt của Nương. Cái chết đó khác nào bị bức tử, kẻ bức tử lại hoàn toàn can.

Bi kịch của Vũ Nương một lời tố cáo hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ. Người phụ nữ đức hạnh đây không những không được bênh vực, chở che lại còn bị đối xử một cách bất công, ; chỉ lời nói ngây thơ của đứa trẻ sự hồ đồ, phu của anh chồng ghen tuông đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình.

Trong hội phong kiến, phụ nữ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Đó cũng chính giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm. Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam Xương còn bao oan tình uất hận những người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, người phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương.

Câu 4. (sgk tr.51):

Tác giả khéo sắp xếp, thêm bớt hoặc đậm các tình tiết đề câu chuyện hấp dẫn sinh động hơn. Thí dụ thêm chi tiết Trường Sinh đem trăm lạng vàngcưới Nương, cuộc hôn nhân trở nên tính chất mua bán, lời trăng trối của mẹ chồng, những lời phân trần, giãi bày của nàng khi bị nghi oan hành động bình tĩnh, quyết liệt của nàng khi tìm đến cái chết... Lời nói của đứa trẻ, được đưa ra dần dần và thông tin ngày một gay cấn. Truyện trở nên kịch tính hơn, gợi cảm, xúc động hơn.

– Những đoạn đối thoại và những lời tự bạch của nhân vật: được sắp xếp rất đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần không nhỏ vào việc khắc hoạ quá trình tâm lí và tính cách nhân vật (lời nói của bà mẹ Trường Sinh, lời của Vũ Nương chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có tình, có lí, là lời của một người phụ nữ hiền thục, nết na, trong trắng, lời đứa trẻ hồn nhiên, thật thành…):

Thắt nút truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây chuyền. “Bão tổ nghi kị trong một đầu óc nam quyền độc đoán thiếu trí tuệ, bão tố bất hoà dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm, bão tố oan khiên phá nát cuộc đời của một con người trong trắng, phải kết thúc bi thảm trên dòng sông”. (Theo Nguyễn Lộc và Đỗ Quang Lưu).

Gỡ nút cũng bất ngờ bằng một câu nói của trẻ thơ non dại (khi chi cái bóng của chàng Trường trên vách: “Cha Đàn lại đến kia kìa!”), bao nhiêu oan khiên gây thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.

Câu 5. (sgk tr.51):

– Những yếu tố kì ảo: Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa, Phan Lang lạc o động rùa của Linh Phi, được đãi tiệc yên và gặp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sử giả của Linh Phi rẽ nước đưa về đường thể hình ảnh Vũ Nương hiện ra sau khi Trường Sinh lập đàn tràng giải oan cho vợ ở bến Hoàng Giang lung linh, huyền ảo Với “kiệu hoa … cờ tán, võng long rực rỡ, lúc ẩn, lúc hiện”, rồi bỗng chốc “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.

– Ý nghĩa của những yếu tố kì ảo: + Làm hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương.

+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng trong cuộc đời: người tốt dù có trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh oan, nhưng tính bi kịch của tác phẩm có vì thế mà bị giảm đi không? Tình tiết kì ảo ở cuối truyện: Vũ Nương trở lại dương thế, rực rỡ, uy nghi nhưng chỉ thấp thoáng ở giữa dòng sông, lúc ẩn, lúc hiện, với lời từ tạ ngậm ngùi: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về dương gian được na, rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần biến đi mất.

+ Tất cả chỉ ảo ảnh, một chút an ủi cho người bạc phận, hạnh phúc thật sự đâu còn thể làm lại được nữa. chàng Trường vẫn phải trả giá cho hành động phũ phàng của mình.

+ Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn chi tiết ảo này khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ trong chế độ phong kiến.

III. TỔNG KẾT:

Qua câu chuyện về cuộc đời cái chết thương tâm của Nương, Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. Tác phẩm một áng văn hay, thành công về nghệ thuật dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa