Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh

Hướng dẫn soạn văn 9 – soạn bài viết bài tập làm văn số 1 – văn thuyết minh

Thuộc mục lục Soạn văn 9 | Soạn văn lớp 9 | Soạn văn 9 Bài 1 | Soạn bài viết bài tập làm văn số 1 – văn thuyết minh

Học sinh tập viết một bài thuyết minh theo đề bài cho trước hoặc tự chọn. Khi viết, biết kết hợp sử dụng một số biện pháp nghệ thuật miêu tả trong bài văn.

Tham khảo các đề văn sau

Đề 1: Thuyết minh về cây lúa Việt Nam.

DÀN BÀI CHI TIẾT
I. MỞ BÀI:

Tục ngữ Việt Nam câu: Con trâu đầu nghiệpông xưa đã đặt sự nghiệp trồng lúa lên hàng đầu.

Giới thiệu tầm quan trọng của cây lúa đối với lương thực của người Á Đông.

II. THÂN BÀI:

Trước khi gieo hạt, người nông dân phải cày bừa , xới cho tơi đất, rồi tùy vào thời tiết thuận lợi (mưa thuận gió hoà) tính ngày gieo hạt. Hạt giống phải ngâm trong nước ba sôi hai lạnh, vài ngày sau chúng đâm rễ, nông dân gieo hạt trên mảnh đất riêng dành để gieo hạt giống đã chuẩn bị sẵn.

Sự phát triển của cây a

Cây mạ lớn dần, khi đã vừa tầm, được nhà nông nhổ lên, bỏ lại từng . Người nông dân chuẩn bị đất ruộng cũng bằng cách cày bừa, xới đất cho , bỏ phân đầy đủ rồi đem mạ cẩy xuống, cứ khoảng 3 tấc lại cấy mấy nhánh mạ. Ít ngày sau, mạ bén rễ lớn lên thành cây lúa, màu xanh mạ chuyển dần sang màu xanh cây.

Trong thời gian này, ngày ngày người nông dân phải thường xuyên ra thăm đồng, tỉa , bắt sâu cho ruộng lúa của mình, khi phải trừ sâu bằng cách xịt thuốc, khi tưới bón thêm cho lúa mau phát triển.

Tùy giống lúa, hoặc 3 tháng hoặc 6 tháng sẽ ra bông, trổ đòng đòng rồi kết hạt. Hạt lúa non màu xanh cốm, rồi chuyển dần sang màu vàng. Thời gian này cần chăm sóc đều diệt sâu rầy.

Khi lúa chín, hạt nẩy mầm no tròn trĩu ngọt. Một ít lúa vàng úa lúc báo hiệu đã đến lúc cắt lúa.

Ngày xưa, người nông dân phải đập lúa, chuyên chở bằng sức người, ngày nay cả máy tuốt lúa, máy cắt lúa và cả máy xay lúa, máy chà gạo. nhiều loại lúa truyền thống của nước ta như: nàng Hương, Tám Xoan, Nếp Ngỗng.

 Hiện nay nước ta đã nhập thêm nhiều giống lai ghép nhiều loại lúa mới như: Thơm Thái, Đài Loan, Tào Hương...

Nỗi nhọc nhằn của nông dân rất nhiều nên có câu ca dao rằng:

Người ta đi cấy lấy công,

Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.

Trông trời trong đất, trông mây,

Trông mưa trong nắng, trong ngày trong đêm.

Trông cho chân cứng đá mềm,

Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.

Sự sử dụng, chế biến hạt lúa

Lúa nếp: thể lấy nếp non làm cốm, Nội nổi tiếng với cốm Làng Vòng. Từ cốm, người ta làm ra bánh cốm để ăn ngày thường hoặc dùng trong tiệc cưới hỏi. Từ cốm, người ta xào lên chế biến thành món cốm dẹp với các gia vị: đường, dừa nạo thành một món ăn rất hấp dẫn.

Từ hạt nếp người ta giã ra làm bánh giầy, bánh nếp nhân đậu hoặc nấu lên thành những món xôi: xôi đậu phộng, xôi đậu xanh, xôi lạp xưởng... Đó những món ăn không thể thiếu trong dịp lễ, hội họp gia đình như tốt nhất, giỗ kị, cưới xin...

Nếu hạt nếp để nguyên làm bánh, không ai quên món bánh chưng Lang Liêu làm để cúng tổ tiên ngày Tết.

Từ hạt gạo, người ta sử dụng làm món lương thực chính mỗi ngày cho người nghèo nhất đến người giàu nhất Á Đông. Nếu không chế biến thành cơm, người ta thể xay thành bột để làm các món bánh như: bánh giò, bánh cuốn,3 bánh xèo, bánh đúc, bánh in, bánh lọt, bánh khọt, bánh bèo... các món ăn được chế biến với những cách thức gia vị khác nhau.

Ảnh hưởng của cây lúa đối với thơ ca, hội hoạ, nhiếp ảnh, âm nhạc:

Lúa đề tài cho các nghệ sáng tác. Từ kinh nghiệm trồng lúa, ông ta cũng đúc kết nhiều bài học quý báu truyền lại cho con cháu:

Làm ruộng tháng năm, coi chăm tháng mười

Mồng chín tháng chín mưa,

mẹ con đi sớm về trưa mặc lòng

Mồng chín tháng chín không mưa,

mẹ con bán cả cày bừa ăn.

  • Ăn no lâu, cày sâu tốt lúa.

– Ăn cơm làm cỏ, chẳng bỏ đi đâu.

III. KẾT LUẬN:

Nỗi khổ nhọc, vất vả của người nông dân Việt Nam thể hiện rõ trong câu ca dao:

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Ngày nay, với kĩ thuật trồng trọt mới, phân giống mới, nghề trồng lúa không những cung cấp lương thực cho người dân trong nước mà còn xuất khẩu đem ngoại tệ về hoặc đổi máy móc và các mặt hàng công nghệ khác ở các nước tiên tiến làm phong phú và nâng cao đời sống nước ta. Tiếc thay, khi đất nước có những chính sách cải tiến nông thôn, nhiều nông dân vì thích cuộc sống đô thị nên đã bán ruộng đất, chuyển sang cuộc sống thành thị. Ngày nay, chúng ta muốn thăm lại một cánh đồng lúa chín nơi ngoại thành là một việc làm khó khăn hơn.

  1. Đ2: Thuyết minh vmột loài động vật hay vật nuôi quê em.

DÀN BÀI GỢI Ý:
I. MỞ BÀI:

Giới thiệu về con vật ấy.

II. THÂN BÀI:

1.Giới thiệu tên gọi, xếp loại, miêu tả hình dáng của nó.

2. Đời sống

– cấu tạo cơ thể và một số đặc điểm của nó:

– Sự ăn uống.

– Đức tính, lợi ích của nó.

– Những truyện kì thú về con vật ấy ở Việt Nam và thế giới.

III. KẾT BÀI:
BÀI THAM KHẢO 1

1. Trong các loài gia súc, con vật quen thuộc nhất đối với con người, có lẽ phải nhắc đến loài chó. Chó còn được nhiều người gọi là con cầy. Nó cũng được đặt cho những cái tên như: Củn, Ki Ki, nhưng cũng có nhiều người đặt cho nó nhiều tên kiểu cách. Nó thuộc động vật bốn chân, ăn tạp.

Xa xưa chó là loài thú hoang nhưng đã được thuần chủng để sống chung với con người. Có những loài rất nhỏ như chó phốc (chỉ lớn hơn mèo một chút), có những loài rất to như chó bẹc-giê.

Chó có 4 chi: hai chân trước và hai chân sau; ngực nở, bụng thon. Chân nó thường có bốn ngón và một ngón treo, móng con. Những con chó nào có bốn móng treo thường được gọi là “tứ túc huyền đề. Đó là dấu hiệu của giống chó khôn. Xa xưa có câu:

Chó khôn tứ túc huyền đề

Tại thì hơi cúp, đuôi thì hơi Cong.

Ông bà xưa còn truyền tụng những câu tục ngữ khác như:

Chơi với chó, chó liếm mặt

– Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt!

Chó ta ăn uống rất dễ, Thức ăn nhiều khi cơm thừa, canh cặn của chủ. Gần đây, khi hội phát triển, một số chó Nhật hoặc bẹc-giê được cưng chiều, lại ăn những thứ như lá lách heo, thịt bò vụn… Đặc biệt: lỗ mũi của chó được trời cho một khả năng nhạy bén. Nó có tài đánh hơi rất xa, phân biệt và ghi nhận được mùi của từng loại. Tại chó cũng rất thính, nghe ngóng được, nhận rõ tiếng động rất nhẹ nên ngành công an thường nuôi dạy nó để săn bắt cướp. Xưa nay có nhiều câu chuyện, phim ảnh kể về những khả năng săn bắt cướp tài tình của chó. Nó đã cùng với các chiến sĩ vượt hiểm nguy để bắt cho kì được những tên cướp dã man. Nhưng không chỉ thế, đặc tính nổi bật của nó là lòng trung thành. Nhiều câu chuyện có thật kể về con chó đi tìm chủ nửa vòng trái đất trong cả chục năm trời để được trở lại với chủ nghèo nàn ngày xưa. Khi nó về đến nơi thì nó đã già yếu lắm, bộ lông xơ xác, thân hình gầy gò. Còn ông chủ thì bệnh tật, vậy mà nó mừng rỡ, quấn quýt bên ông còn hơn cả lúc ở với ông chủ nhà giàu. Khi ông chủ đau bệnh rồi chết, mọi người chồn ông ngoài nghĩa trang, nó cũng ra nằm ở mồ mả nhịn ăn mà chết. Những năm gần đây, chuyện lạ quốc tế còn kể về một người tuyên bố đám cưới với chó. Điều đó có nhiều điều khiến ta suy nghĩ: một là người ấy bất bình thường, hai là người ấy muốn cho thế giới biết rằng loài chó rất đáng yêu, đức tính trung thành của nó có thể kết bạn trăm năm với loài người, xứng đáng làm bạn tri ân tri kỉ với loài người.

Trong văn học Việt Nam có hình ảnh con chó nổi tiếng như cậu Vàng của lão Hạc, trong văn học nước ngoài có con chó Bấc trong tác phẩm của nhà văn Mĩ Lân-đơn.

Gần đây, trong nhiều phim ảnh Đông Tây, chó là nhân vật chính trong những cuốn phim nhiều tập, làm say mê biết bao nhiêu khán giả. Ở nước ta hiện nay đã nhập khẩu nhiều giống chó rất xinh xắn như chó Xù Trung Quốc, chó Xù Nhật Bản, chó Béc-giê v.V... Việt Nam có một giống chó rất khôn, sức vóc cũng gần bằng Béc-giê xuất xứ từ đảo Phú Quốc, gọi là chó Phú Quốc. Đời sống hiện nay văn minh, nước ta đã mở ra nhiều lớp huấn luyện chó để săn bắt cướp, đánh trộm, giữ nhà.

Ở một số nước kinh tế cao như Mỹ, Pháp, Anh, người ta làm giàu bằng những dịch vụ chăm sóc chó như: làm nhà cho chó, thẩm mỹ viện chăm sóc chó, đồ hộp cho chó, tổ chức tang lễ cho chó… vì chó cũng đã trở thành thú cưng không thể thiếu với nhiều người cô độc trong các thành phố công nghiệp

Chó là một loài có ích hầu như không thể thiếu được trong đời sống con người. Dù nhà giàu hay nhà nghèo, dù cá n ai hay tập thể, cơ quan luôn luôn có những người nuôi nấng, bảo vệ loài vật đáng yêu này.

Nhưng thỉnh thoảng có những con chó không may nhiễm phải vi rút lây bệnh dại sẽ trở nên vô cùng dữ tợn, hung hăng cắn người. Người nào bị cắn cũng sẽ bị điện và chết… Cho nên nuôi chó phải có trách nhiệm chích ngừa bệnh dại cho nó. Một số người thiếu lòng nhân đạo chuyên làm nghề bán thịt chó, ăn thịt chó. Ở Việt Nam, Hàn Quốc điều đó là bình thường, nhưng đối với các nước phương Tây thì đó là một sự tàn nhẫn. .

Nếu ai có lòng thương yêu nuôi nấng chó, sẽ có dịp cảm thụ sự tinh khôn, tính trung thành và tình thương của nó. Nó có thể sống trọn đời hơn mười năm hạnh phúc với chúng ta.

BÀI THAM KHẢO 2

Khi nền nông nghiệp nước ta còn phôi thai với sự lệ thuộc vào thiên nhiên, khi chúng ta chưa hề phát minh ra con trâu sắtchưa biết gì về cuộc cách mạng khoa học thuật trên thế giới thì trâu đóng vai trò hết sức quan trọng đối với người nông dân Việt Nam. Con trâu đầu nghiệpcâu nói này đã cho ta thấy tầm quan trọng của đối với nông dân nước ta ngày xưa!

Trâu một loài động vật thân thiết với nông dân. Trâu được nuôi trong nhà, thuộc họ , thủ nhai lại. Trâu Việt Nam nguồn gốc từ trâu rừng thuần hoá thuộc nhóm trâu đầm lầy. Thân hình vạm vỡ, thấp ngắn, hình khối bầu dục, bụng to, bầu nhỏ, sừng dài hình lưỡi liềm, toàn thân phủ lớp lông màu xám hoặc xám đen. thường 2 vùng lông màu trắng dưới cổ và giữa 2 sừng.

Trâu cái nặng trung bình từ 350 400 kg. Trâu đực thường nặng hơn (trung bình từ 400 450 kg). Thức ăn chủ yếu của chúng với bộ máy tiêu hoá có 4 ngăn để thích hợp cho việc nhai lại. Khi ăn, nó dùng lưỡi vcỏ và cắt cỏ bằng răng cửa của hàm dưới. Sau khi bắt cỏ nó nuốt ngay và chứa vào một túi rất lớn trong bao tử. Một lát sau, thức ăn được chuyển sang túi tổ ong. Khi nào nghỉ ngơi, nó đưa có lên miệng nhai lại thật kĩ rồi chuyển sang tủi thứ tư trong bao tử. Lên 3 tuổi, trâu cái có thể đẻ lứa đầu nhưng đến 45% trâu cái đẻ lứa đầu ở năm 4 tuổi. Trâu ở vùng núi sinh sản nhiều hơn ở đồng bằng (vùng núi 40 – 45%, đồng băng 20 – 25%). Một đời con trâu cái thường sinh được 5 – 6 nghé, Nghé sơ sinh nặng từ 22 – 25 kg. Răng cửa bắt đầu mọc từ 3 tuổi và kết thúc thời kì sinh trưởng lúc 6 tuổi. Trâu có tính hiền lành, thường vâng theo lời chủ, sức khỏe lại bền bỉ dẻo dai, ăn uống dễ, không tốn kém. Từ thuở khai thiên lập địa, con người đã thuần hoá trâu để nó cùng khai phá thiên nhiên và tham gia sản xuất với mình. Nó có tầm quan trọng trong đời sống nông dân nên tục ngữ có câu:

Con trâu là đầu cơ nghiệp.

Hay:

Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

Trong ba việc ấy thật là khó thay

Sau một ngày làm việc mệt nhọc, điều nó thích nhất là đắm mình trong nước, tắm vùng vẫy nhưng nếu đó là trâu thổ (trâu kéo xe) thì chúng còn phải lặn lội đường xa. Lực kéo cày của trâu trung bình bằng 0,40 mã lực. Trâu loại A mỗi ngày cày được 3 – 4 sào, loại B được 2 – 3 sào, loại C khoảng 1 sào rưỡi. Trâu kéo xe ở đường xấu chở được 400 – 500 kg, trên đường tốt tải trọng của trâu từ 700 – 800 kg, đến trên 1 tấn.

Trâu còn dùng để xẻ thịt hoặc cho sữa. Trong 1 chu kì vắt được từ 400 – 500 kg sữa. Trong 24 giờ trâu thải ra 10 kg phân. Trong thịt trâu có gần 22% protit, 3% lipit, 30 miligam % canxi, 150 miligam % photpho. Đó là loại thịt bổ dưỡng cho con người. | Hình ảnh con trâu còn là đề tài của thơ ca hội hoạ và âm nhạc ở các nước Đông Nam Á. Trong Phật Giáo có một bộ tranh nổi tiếng là Thập Bát Ngưu Đỗ. Trong hội hoạ bình dân thường sáng tác bộ tranh Ngư Tiều Canh Mục.

Khi nền kĩ thuật nông nghiệp chưa phát triển, trâu là tài sản quan trọng của người nông dân. Khi cơ khí nông nghiệp phát triển, tầm quan trọng của trâu đã lùi xuống nhưng nó vẫn là gia súc quen thuộc và cần thiết cho nông dân hiện nay. Bài ca dành cho con trâu ngày nào nay vẫn còn văng vẳng:

Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cy cày vốn nghiệp nông gia,

Ta đây trâu đấy, ai quản Công.

Khi nào cây lúa còn bông,

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Đề 3: Một nét đặc sắc trong di tích, thắng cảnh ở quê em.

HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:

Xác định đối tượng (sự vật nào? Vấn đề ?) thuyết minh thao tác dụng để thuyết minh (giới thiệu, trình bày, giải thích,...).

Tìm hiểu đối tượng cần thuyết minh quan sát, đọc tài liệu,...).

Lựa chọn phương pháp thuyết minh: xem lại những kiến thức về phương pháp thuyết minh, lựa chọn các phương pháp ssử dụng cho phù hợp với đối tượng cần thuyết minh với từng nội dung dự định sẽ thuyết minh.

Lập dàn ý theo bố cục ba phần: + Mở bài: giới thiệu đối tượng thuyết minh.

+ Thân bài: Thuyết minh lần lượt từng nội dung về đối tượng (công dụng, xuất xứ, đặc điểm,...).

+ Kết bài: Nêu suy nghĩ của mình về đối tượng vừa thuyết minh bài học về việc phải làm đối với đối tượng ấy.

Viết trước một số đoạn văn chính của văn bản: Mở bài, kết bài một số đoạn văn thuyết minh về những nội dung quan trọng của đối tượng.

DÀN BÀI GỢI Ý:
I. MỞ BÀI:

Giới thiệu khái quát vị trí của địa danh với những đặc điểm riêng.

II. THÂN BÀI:

Giải thích ý nghĩa của địa danh ấy

dụ 1: Trên cầu Thê Húc nghĩa giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời buổi ban mai.

Ví dụ 2: Chùa Dơi ra đời cách đây gần 400 năm (chùa tên chùa Tộc hay chùa Ma Ha Túc). Chùa nằm cách thị Sóc Trăng 2 km, một trong những điểm thu hút nhiều khách du lịch trong nước quốc tế. Chùa Dơi độc đáo bởi hàng ngàn tượng Phật, tượng tứ linh (long, li, quy, phượng...) được nặn từ đất sét cùng với vẻ đẹp thú do dơi quà tạo nên.

Nguồn gốc lch sử của địa danh y.

Ví d: Văn Miếu được xây dựng tháng 8 năm Canh Tuất, tức tháng 10 năm 1070 (đời Thánh Tông) nơi thờ các thánh hiền đạo Nho (Khổng Tử. Manh Tử...) nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Sáu năm sau (1076), Nhân Tông lập thêm Quốc Tử Giám kề sau Văn Miếu. Ban đầu đây nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả những học trò giỏi trong thiên hạ. Những đặc điểm về địa của đại danh y. dụ: Nội nằm vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, giới hạn trong khoảng từ 20°53đến 21°23độ Bắc, 105°44đến 106°00kinh độ đông, tiếp giáp với 5 tỉnh, phía bắc Bắc Thải, phía tây tây nam Vĩnh Phúc, Tây, động đông nam Bắc, Hải Hưng. Nội diện tích tự nhiên 922,8km?, khoảng cách dài nhất từ phía bắc xuống phía nam trên 50km chỗ rộng nhất từ tây sang đông 30km

Địa hình: Đại bộ phận diện tích Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 15 m đến 20 m so với mặt biển. Còn lại chỉ có khu vực đồi núi ở phía bắc và phía tây bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20 m đến trên 400 m với đình Chân Chim cao nhất là 462 m. Địa hình của Hà Nội thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang động.

Những đặc điểm về con người nơi ấy.

Ví dụ: Dân số trung bình của Hà Nội năm 1995 là 2.326,6 ngàn người, trong đó: nam: 1.142,4 ngàn người, nữ: 1.184,2 ngàn người, thành thị: 1.216,7 ngàn người, nông thôn: 1,109,9 ngàn người. Mật độ dân số toàn thành phố là 2535 người/ km”, trong đó nội thành có mật độ 23.026 người/ km, ngoại thành 1.435 người/ km”, huyện Sóc Sơn có mật độ dân thưa hơn cả: 729 người/ km, quận Hoàn Kiếm có mật độ dân số cao nhất 40.313 người/ km.

– Những đặc điểm về sản vật nơi ấy.

Ví dụ 1: Làng sơn mài Tương Bình Hiệp (Bình Dương) đã hình thành từ xa xưa, nổi tiếng với nhiều sản phẩm thủ công được chế tác tinh xảo. Nghệ sơn mài do cư dân Bắc, Trung di dân mang vào. Khi đến đất Bình Dương xưa, họ kết hợp làng truyền thống với nghề làm tranh cổ huyện Bình An – Tương Bình Hiệp để hình thành nên làng sơn mài. Hàng sơn mài có 7 loại cơ bản: Sơn lộng, vẽ chùm, vẽ mỏng, khắc tùng, đắp nồi, cẩn xà cừ và cẩn trứng.

Ví dụ 2: Sản phẩm hoa cắt cành của làng hoa Ngọc Hà khá phong phú bao gồm cả các loại hoa thu hoạch nhiều lần (lưu gốc) và hoa thu hoạch một lần. Các loại hoa thu hoạch nhiều lần chủ yếu là:

 Hoa đào: Hoa đào có nhiều loại như đào bích, đào phai hoặc đào cảnh. Đây là loại hoa truyền thống của người dân Hà Nội trong dịp đón xuân. Vì vậy việc trồng đào quan trọng nhất là điều tiết để cho hoa nở đúng vào dịp Tết Nguyên đán. Ngoài ra còn kĩ thuật tạo cành, tạo thế để tăng giá trị của sản phẩm..

Hồng Đà Lạt: Là một sản phẩm mới du nhập trên thị trường Hà Nội một vài năm gần đây. Song với đặc điểm hoa to, đẹp và sắc màu phong phú, nó hầu như đã chiếm lĩnh được thị trường và trở thành thứ hoa cao cấp, đáp ứng thị hiếu của người sành chơi hoa Hà Nội.

B – Những đặc điểm về phong cảnh nơi ấy

| Ví dụ: Khách du lịch đến thăm Chùa Dơi thủ nhất là được ngắm nhìn đàn Hợi bay kín cả bầu trời mỗi khi hoàng hôn. Trong cái tĩnh mịch của ngôi chùa cổ giữa rừng, tiếng vỗ cánh của đàn dơi có thể làm những ai yếu bóng vía phải hãi hùng.

Một bài văn tham khảo:
BÀI THAM KHO
I. MỞ BÀI:

Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Langbiang, cách mặt biến khoảng 1500 mét. Hơn một trăm năm về trước (1893). Thành phố Đà Lạt là nơi cư trú của các tộc người Thượng… một dân tộc ít người ở Việt Nam. Phía bắc giáp với huyện Lạc Dương, đông và đông nam với huyện Đơn Dương, tây và tây nam giáp với huyện Lâm Hà và Đức Trọng. Du khách Việt Nam và thế giới luôn tìm đến những danh lam thắng cảnh mà nói đến danh lam thắng cảnh Việt Nam thì không thể quên nói đến Đà Lạt.

II. THÂN BÀI:

Vị trí: Đà Lạt thành phố cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 350 km về phía Tây Bắc. Nhờ độ cao đó nên khí hậu Đà Lạt rất mát lành. Năm 1893, bác sĩ Alexandre Yersin đã làm một công trình khảo sát tỉ mỉ về phong thổ Đà lạt đề nghị toàn quyền Doumer chọn nơi này làm trạm điều dưỡng cho những người đau bệnh. 1916, Đà Lạt vẫn còn khu thị tử nhỏ với gần mười căn nhà gỗ đơn bên thác Cam Li, phục vụ khách du lịch. Từ 1920 đến 1936, thành phố này được thành lập kèm theo việc bầu ra một hội đồng thành phố. Trải qua nhiều năm tháng lịch sử, Đà Lạt dần dần được phát triển, tôn tạo những vẻ đặc sắc. Khí hậu Đà Lạt tương tự như vùng ôn đới: nhiệt độ từ 16 24°c.

 Rừng Đà Lạt nhiều cây quý. Núi không cao nhưng tập trung khắp nơi với nhiều hẻm vực, hoa trái. Đà Lạt xứ sở của những hoa dị thảo từ những loài hồng, loài lan quý hiếm xa xưa mang tên những nữ vương, người danh tiếng bên Âu Châu, cho đến những giống hoa mới mang về từ Ba Lan như hoa hồng, phong lan, địa lan,... Các loài hoa rực rỡ khắp nơi bao phủ mọi nẻo đường Đà Lat. Hoa hồng Đà Lạt thân to, hoa lớn với những màu được ưa chuộng hồng nhung, hồng bề bề, hồng bạch, hồng vàng nó được trồng bằng cách ghép cành, cắt cành vặt công phu những bông hoa tốt nhất được đưa đi xuất khẩu. Phong lan Đà Lạt có nhiều giống quý hiếm như lan hài, lan vũ nữ, lan Cát-ley-a, ngọc điểm… Đó là những giống hoa vừa cho sắc vừa cho hương, vừa đẹp, vừa bền. Lan được đặt cho một cái tên là “vương giả chi hoa”. Hoa li là loài hoa có nhiều cánh, có màu trắng tinh, hương thơm nhẹ thường được thờ trong thánh đường. Hoa màu vàng tươi thắm nhưng không hương. Hoa màu hồng gấm có hương nồng nàn nhất, có những đốm nâu lấm tấm, thường được dùng trong lễ cưới, tiệc tùng. Các loại hoa được trồng ở công viên Đà Lạt, những tên đặc sắc hình dáng thì đặc biệt như cẩm tú cầu, lis, panse, forget-me-not…

Vi Đà Lạt là xứ lạnh nên rau trái cũ rau trái cũng rất tươi tốt, phong phú, từ xưa Đà Lạt đã trồng được các loại rau ôn đới như su su, bắp cải, bông cải, cà rốt… Gần đây, Đà Lạt nhập về giống mới để cho ra những loại trái như đào, mận, nho, bông cải tím, bắp cải tím. | Nhưng nói đến Đà Lạt không thể không nhắc tới phong cảnh thiên nhiên. Nó là niềm vui vô tận với khách phương xa, phải thăm thác Camli, Hồ Than Thở, Thác Datanla… lại còn Thác Fren cách Đà Lạt 15km, thấp hơn mặt đường chừng 20m. Đứng dưới nhìn lên, thác đổ từ trên cao, bắn ra những tia nước nhỏ li ti hợp thành một lăng kính hiện ra đủ màu sắc của cầu vồng trước ánh mặt trời. Đó là chưa kể những mái chùa thu hút khách trong và ngoài nước do các cao tăng trụ trì như Trúc Lâm thiền viện do thầy Thanh Từ xây dựng những dinh thự và biệt thự đẹp mang dấu tích lịch sử của vị vua cuối cùng của nước ta như Dinh I, Dinh II, Dinh | I và biệt thự Hằng Nga …

III. KẾT BÀI:

 Đà Lạt còn nhiều danh lam thắng cảnh có tên tuổi như Đồi Mộng mơ, Thung lũng Tình yêu… hoặc những kì hoa dị thảo nơi nơi, không tên tuổi. Một người nước ngoài đã nói: “Không thể nói rằng đã thăm Việt Nam nếu không tới thăm Đà Lạt”. Đà Lạt là nơi nghỉ dưỡng, là chốn thơ mộng mà ai trong chúng ta đều không thể nào quên nếu muốn bỏ chốn thị thành náo nhiệt để tìm đến thiên nhiên tươi xanh!

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa