Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh

Hướng dẫn soạn văn 9 – soạn bài sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 9 | Soạn văn lớp 9 | Soạn văn 9 Bài 1 | Soạn bài sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh | Tài Liệu Chùa

A. Kiến thức cơ bản:

Để thuyết minh một cách cụ thể, sinh động, bài văn thuyết minh thể kết hợp sử dụng các yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh. Điều này có thể làm cho đối tượng thuyết minh được nổi bật, gây ấn tượng.

Trong bài văn thuyết minh, người viết phải trình bày đúng khách quan các đặc điểm tiêu biểu của đối tượng.

Khi thuyết minh một đối tượng, bài viết phải cho biết: thuyết minh cái , như thế nào, có ích, hại ra sao.

Thí dụ: Ngôi nhà cổ của cụ Hương Liêm được cất lên vào cuối thế kỉ mười chín tại làng Giồng Luông, huyện Thạnh Phú, Bến Tre. Làng Giồng Luông y Đại Điện . Ngôi nhà cổ Đại Điền được cất theo hình chữ nhật, chu vi khoảng 100 mét, gồm tất cả 48 cột, cột bố trí: 8 x 6, cột bằng gỗ lim căm xe quý. Cột hàng ba cao 3,5 mét, mỗi cột to hơn 4 tay (một tay bằng 20 cm theo cách gọi của thợ mộc tức chu vi cột hơn 80 cm). Cột chính cao 4,5m, mỗi cột to hơn 6 tay (chu vi hơn 1, 2 mét). Ở nhiều cột có nhiều chạm khắc, cần chữ nho, hoa văn, hoạ tiết bằng ốc xà cừ. Tất cả cột, kèo, xiên… được đúc kết gắn nhau liền lạc. Hoành phi sơn son thiếp vàng với bốn chữ: Hiếu, Đỗ Trung, Tín. Thành vọng chạm, lộng, với hoạ tiết phong cảnh, vật tứ linh thật sống động. Còn mái nhà, mái lợp ngói âm dương, mỗi miếng ngói có in hình sinh hoạt dân gian như chú mục đồng cỡi trâu, con gà, con cua, bó lúa… rất gần gũi với đời sống nhân dân lao động. Song tiếc thay, với thời gian mái nhà được lợp li nhiều lần nên những miếng ngói độc đáo kia nay chỉ còn một ít.

Nền nhà cũng được xây dựng thật đặc biệt. Nền cao một mét, viền bọc nền là những thớt đá hoa kim cương (đá xanh) dài 2 – 3 mét, được đục và gắn kết nhau liền mặt bao quanh hết nền nhà.

B. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI:

I. TÌM HIỂU YẾU TỐ MIÊU TẢ TRONG N BẢN THUYẾT MINH:
Câu 2 (ngữ văn 9, tập 1, tr.25):

a) Nhan đề văn bản Cây chuối trong đời sống Việt Nam đã miêu tả cây chuối nói chung trong đời sống Việt Nam, chứ không miêu tả một cây chuối cụ thể. Bài văn đã vận dụng yếu tố miêu tả một cách thích hợp để khơi gợi sự cảm nhận về cây chuối.

b) Những đặc điểm tiêu biểu của cây chuối: thân mềm vươn lên như những trụ cột nhẵn bóng, tỏa ra vòm tán lá xanh mướt che rợp từ vườn tược đến núi rừn.. gốc chuối tròn như đầu người, lớn dần theo thời gian, có rễ chùm nằm dưới mặt đất... Có một loại chuối được người ta rất chuộng, đấy là chuối trứng cuốc – không phải là quả tròn như trứng cuốc mà khi chín vỏ chuối có những vệt lốm đốm như vỏ trứng cuốc. Mỗi cây chuối đều có một buồng chuối. Có buồng chuối trăm quả, cũng có buồng chuối cả nghìn quả. Không thiếu những buồng chuối dài từ ngọn cây uốn trĩu xuống tận gốc cây.

+ Loài cây quả được trồng trọt phổ biến ở nông thôn Việt Nam, nhất là những nơi có nước: Cây chuối rất ưa nước nên người ta hay trồng bên ao hồ rất nhanh tươi tốt, còn ở rừng, bên những khe suối, hay thung ng, chuối mọc thành rừng bạt ngàn vô tận. Chuối phát triển rất nhanh, chuối mẹ đẻ chuối con, chuối con đẻ chuối cháu, cứ gọi là “con đàn cháu lũ”.

– Bài văn vận dụng nhiều yếu tố miêu tả để việc thuyết minh về cây chuối thêm cụ thể, sinh động, gây ấn tượng cho người đọc.

c) Công dụng của quả chuối trong đời sống người Việt Nam: chuối chín để ăn, chuối xanh để chế biến thức ăn, chuối để thờ cúng. Mỗi loại lại chia ra cách dùng, cách nấu món ăn, cách thờ cúng: Quả chuối chín ăn vào không chỉ no, không chỉ ngon mà còn là một chất dưỡng da làm cho da dẻ mịn màng. Chính thế nhiều phụ nữ nghiền chuối như nghiền mĩ phẩm. Nếu chuối chín là một món quà sáng trưa chiều tối của con người thì chuối xanh lại là một món ăn thông dụng trong các ba ăn hằng ngày. Chuối xanh có vị chát, để sống cắt lát ăn cặp Với thịt heo luộc chấm tôm chua khiến miếng thịt ngọn gấp bội phần, nó cũng là món ăn cặp rất tuyệt vời với các món tái hay món gỏi. Chuối xanh nấu với các loại thực phẩm vị tanh như cá, ốc, lươn, chạch có sức khử tanh rất tốt, nó không chỉ làm cho thực phẩm ngon hơn chính cũng thừa hưởng cái ngon, cái bổ của thực phẩm truyền lại. Người ta thể chế biến ra nhiều món ăn từ quả chuối như chuối ép, mứt chuối, kẹo chuối, bánh chuối,...

d) Thân cây chuối phần bên ngoài thường dùng để nuôi gia súc, phần nõn non thường để thải ghém, ăn với rau thơm trong những món nộm, gỏi... Những phần ngoài cùng già nhất dùng để phơi khô tước ra làm lạt. già hay nên dùng để gói bánh, làm nem. Bắp chuối cũng là một món rau sống thú vị ăn trong bản riêu, bún bò, và các món gỏi…

II. LUYỆN TẬP:
Câu 1. (sgk tr.26):

– Thân cây chuối: nhẵn bóng, tròn và to như cái cột đình, nhưng có một màu xanh ngọt ngào, dịu mắt.

Lá chuối tươi: Từ thân ấy tỏa ra những tàu lá chuối màu xanh lục, lá già xòa ra xum xuê phía dưới, lá non cuộn tròn, đâm lên như một cuộn giấy học trò.

– Lá chuối khô: Những tàu lá chuối ngã dần sang màu vàng, rồi chuyển sang màu nâu đất. Chúng càng khô, càng mỏng và dẻo dai. Được sử dụng để làm bảnh gai.

– Nõn chuối: là mầm của những chiếc lá chuối non cuộn tròn, nằm dọc trong ngọn của thân chuối, mang một màu xanh lục nhạt, pha vàng.

– Bắp chuối: khi to trĩu xuống lộ ra màu đỏ

Quả chuối: khi chín vỏ thường có chấm nâu hoặc đen như hình trên vỏ trứng chim cút gọi là chuối trứng cuốc.

Câu 2. (sgk tr.26):

Tách là loại chén uống nước của Tây, nó có tại. Chén của ta không có tai. Khi mà uống trà thì bưng hai tay mà mời. Bác vừa cười vừa làm động tác. Có uống cũng nâng hai tay xoa xoa rồi mới uống, mà uống rất nóng.

Câu 3. (sgk tr.26):

– Lân được trang trí công phu, râu ngũ sắc, lông mày bạc, mắt lộ to, thân hình có các hoạ tiết đẹp. Múa lân rất sôi động với các động tác khỏe khoắn, bài bản…

– Bàn cờ là sân bãi rộng, mỗi phe có mười sáu người mặc đồng phục đỏ hoặc xanh, cầm trên tay hay đeo trước ngực biển kí hiệu quân cờ. Hai tướng (tướng ông, tưởng bà) của từng bên đều mặc trang phục của thời xưa lộng lẫy có cờ đuôi nheo đeo chéo sau lưng và được che lọng.

– Sau hiệu lệnh, những con thuyền lao vun vút trong tiếng hò reo cổ vũ và chiêng trống rộn rã cổ vũ hai bờ sông….

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa