Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy)

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 32 | Soạn bài Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy) | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy)
soạn văn 6 soạn bài Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy)

Mục đích của bài ôn tập, giúp các em củng cố và tiếp tục hoàn thiện kiến thức, kĩ năng sử dụng dấu phẩy đã học ở bậc Tiểu học.

A. HƯỚNG DẪN NỘI DUNG ÔN TẬP

I. Công dụng

 Dấu phẩy (,) được dùng để đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận của cầu. Cụ thể là:

– Phân cách giữa thành phần phụ của câu với thành phần chính của câu (chủ ngữ – vị ngữ).

Ví dụ: Hôm sau, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến rước Mị Nương về núi.

– Phân cách giữa các từ ngữ có cùng chức vụ trong câu.

Ví dụ: Căn phòng này mát mẻ, sạch sẽ.

– Phân cách giữa một từ ngữ với bộ phận chú thích của nó.

Ví dụ: Vẻ đẹp của biển, vẻ đẹp kì diệu muôn màu, muôn sắc ấy phần lớn là do mây, trời và ánh sáng tạo nên.

– Phân cách giữa các vế của một câu ghép.

Ví dụ: Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương.

1. Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp.

a. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ. (Theo Thánh Gióng)

b. Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay, tre với mình sống chết có nhau, chung thủy. (Theo Thép Mới)

c. Nước bị cản, lăng bọt tứ tung, thuyền vùng bằng cứ chực trụt xuống. (Theo Vượt thác)

2. Giải thích

a. Dấu phẩy thứ nhất được dùng để phân tích các thành phần phụ (trạng ngữ vừa lúc đó) của câu với thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ: sứ giả đem… sắt đến) của câu.

– Dấu phẩy thứ hai, thứ ba được dùng để phân cách các từ ngữ có cùng chức vụ trong câu (ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt).

– Dấu phẩu thứ tư cũng được dùng để phân cách các từ ngữ có cùng chức vụ trong câu (vị ngữ: vùng đáy, vươn vai…).

b. Dấu phẩy thứ nhất được dùng để phân cách các từ ngữ có cùng chức vụ trong câu (trạng ngữ: suốt một đời người, từ thuở lọt lòng…).

– Dấu phẩy thứ hai được dùng để phân cách thành phần phụ (trạng ngữ từ thuở lọt… xuôi tay) của câu với thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ: tre với mình… chung thủy) của câu .

– Dấu phẩy thứ ba được dùng để phân cách các từ ngữ có cùng chức vụ trong câu (vị ngữ: sống chết có nhau, chung thủy).

c. Hai dấu phẩy ở câu này dùng để phân cách các vế của câu ghép.

II, Chữa một số lỗi thường gặp

Nếu như dấu chấm (.), dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!) là các loại dấu kết thúc câu, được đặt ở cuối câu thì dấu phẩy (,) dùng trong nội bộ câu. Dấu phẩy có vai trò rất quan trọng trong việc phân tách

các ý nhỏ trong câu, giúp người đọc dễ theo dõi, lĩnh hội nội dung thông báo của câu.

Dấu phẩy (,) là loại dầu được sử dụng khá linh hoạt và khó sử dụng. Vì vậy, các em cần luyện tập thật nhiều về dấu phẩy.

a. Chào mào, sáo sậu, sáo đen… Đàn đàn, lũ lũ bay đi, bay về, lượn lên lượn xuống. Chúng nó gọi nhau, trò chuyện, trêu ghẹo và tranh cãi nhau ôn mà vui không thể tưởng tượng. (Theo Vũ Tú Nam)

b. Trên những ngọn cây già nua cổ thụ, những chiếc lá vàng còn sót lại cuối cùng đang khua lao xao trước khi từ giữa thân mẹ đơn sơ. Nhưng, những hàng cau làng Dạ thì bất chấp tất cả sức mạnh tàn bạo của mùa đông, chúng vẫn còn y nguyên những tàu lá cắt vẻo, mềm mại như cái đuôi cánh én. (Theo Ma Văn Kháng)

B. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Bài tập này yêu cầu các em đặt dấu phẩy vào vị trí thích hợp trong các câu dẫn ở SGK trang 159.

a. Từ xưa đến nay, Thánh Gióng luôn là hình ảnh rực rỡ về lòng yêu nước, sức mạnh phi thường và tinh thần sẵn sàng chống ngoại tâm của dân tộc Việt Nam ta.

b. Buổi sáng, sương muối phủ trắng cành cây, bãi cỏ. Gió bấc hun hút thôi. Núi đồi, thung lũng, làng bản chìm trong biển mây mù. Mây bò trên mặt đất, tràn vào trong nhà, quấn lấy người đi đường. (Theo Tập đọc lớp 5, 1980)

2. Bài tập này yêu cầu các em lựa chọn thêm một chủ ngữ thích hợp để tạo thành câu hoàn chỉnh.

a. Vào giờ tan tầm, xe ô tô, xe máy, xe đạp đi lại nườm nượp trên đường phố.

b. Trong vườn, hoa lan, hoa huệ, hoa hồng đua nhau nở rộ.

c. Dọc theo bờ sông, những vườn ổi, vườn na, vườn xoài xum xuê, trĩu quả.

3. Bài tập này yêu cầu các em lựa chọn thêm một vị ngữ thích hợp để tạo thành câu hoàn chỉnh.

a. Những chú chim bói cá bay lên, lượn xuống rất nhanh

b. Mỗi dịp về quê, tôi đều hái ổi, mặt me cho bà.

c. Lá cọ dài, tán rộng che rợp cả một vùng đồi.

d. Dòng sông quê tôi hiền hòa, êm ả.

4. Trong bài Cây tre Việt Nam, nhà văn Thép Mới có viết:

Cối xay tre nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc.

Cách dùng dấu phẩy của tác giả trong câu trên tạo ra nhịp điệu đều đặn, chậm rãi cho câu văn. Nhịp điệu ấy góp phần diễn tả nhịp quay tròn, nặng nề, chậm chạp, nhẫn nại, mệt mỏi của chiếc cối xay. Đồng thời, nhịp điệu ấy khiến ta liên tưởng tới đời sống lâm than, cơ cực của người nông dân Việt Nam xưa kia.

Ở câu thơ trên, Thép Mới đã đặt hai dấu phẩy đúng chỗ khiến cho người đọc có sự liên tưởng như trên.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa