Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 29 | Soạn bài Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ
soạn văn 6 soạn bài Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ

Mục đích của bài học, giúp các em nhận ra và biết cách khắc phục các lỗi đặt câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ.

A. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

Câu có cấu tạo bình thường (trừ các câu có cấu tạo đặc biệt và câu rút gọn) phải có đủ chủ ngữ và vị ngữ. Câu thiếu một trong hai thành phần là câu sai.

– Nguyên nhân của việc tạo câu sai chủ yếu do người viết lầm tưởng:

+ Sự vật được nêu ở trạng ngữ chính là đối tượng làm chủ thể của hành động trong thông báo.

+ Cụm chủ – vị làm phụ ngữ cho danh từ trung tâm trong cụm danh từ làm chủ ngữ là một câu hoàn chỉnh.

+ Cụm danh từ có thành phần giải thích là một câu hoàn chỉnh. Tóm lại, nguyên nhân của việc câu sai là do người viết không kiểm soát được câu mình viết, không nắm vững cấu tạo của một số kiểu câu thường viết sai.

Bài học này giúp các em nắm chắc, hiểu kĩ cấu tạo của các kiểu câu này. Từ đó, có cơ sở để phát hiện ra các câu sai do thiếu chủ ngữ, vị ngữ; hình thành ý thức và thói quen viết câu đúng.

I. Câu thiếu chủ ngữ

1. Chủ ngữ, vị ngữ của các câu dẫn trong SGK trang 129:

 a. Qua truyện Dế Mèn phiêu lưu kí cho thấy Dế Mèn biết phục thiện.

Ta thấy câu này:

+ Chỉ có vị ngữ thấy Dế Mèn biết phục thiện.

+ Thiếu chủ ngữ. 

Ta có thể đặt câu hỏi: Qua chuyện Dế Mèn phiêu lưu kí ai thấy Dế Mèn biết phục thiện? Sẽ không có câu trả lời cho câu hỏi này bởi câu trên thiếu chủ ngữ.

b. Qua truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí, em thấy Dế Mèn biết phục thiện.

Trong đó:

+ Chủ ngữ: em

+ Vị ngữ: thấy Dế Mèn biết phục thiện.

Đây là câu có đủ chủ ngữ và vị ngữ.

2. Chữa lại câu sai cho đúng.

Câu a ở mục I.1 là câu sai vì thiếu chủ ngữ. Nguyên nhân của việc tạo ra câu sai này là do người viết lầm tưởng “sự vật” được nêu ở trạng ngữ (Dế Mèn phiêu lưu kí) chính là “đối tượng làm chủ thể của hành động trong thông báo”.

Có thể chữa câu đó theo hai cách sau đây:

+ Thêm chủ ngữ như: em, chúng em…

Qua truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí, chúng em thấy Dế Mèn biết phục thiện.

+ Biến trạng ngữ thành chủ ngữ bằng cách bỏ đi một số từ ở trạng ngữ:  bỏ từ qua trong qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký thành: Truyện Dế Mèn phiêu lưu kí cho thấy Dế Mèn biết phục thiện.

II. Câu thiếu vị ngữ

1. Chủ ngữ, vị ngữ của các câu dẫn ở trong SGK trang 129:

a. Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, tung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.

Trong đó:

+ Chủ ngữ: Thánh Gióng

+ Vị ngữ: cưỡi ngựa sắt, cung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.

Đây là câu có đủ chủ ngữ và vị ngữ.

b. Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, cung roi sắt, xông thu ng vào quân thù.

Trong câu này:

+ Chỉ có chủ ngữ Hình ảnh … vào quân thù

+ Thiếu vị ngữ.

Ta có thể đặt câu hỏi: Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, cung roi sắt, xông thẳng vào quân thù như thế nào? Sẽ không có câu trả lời cho câu hỏi vì câu trên thiếu thành phần vị ngữ.

c. Bạn Lan, người học giỏi nhất lớp 6A.

Trong câu này:

+ Chỉ có chủ ngữ bạn Lan, người học giỏi nhất lớp 6A.

+ Thiếu vị ngữ.

Ta có thể đặt câu hỏi: Bạn Lan, người học giỏi nhất lớp 6A làm sao? Sẽ không có câu trả lời cho câu hỏi này vì cầu trên thiếu thành phần vị ngữ.

d. Bạn Lan là người học giỏi nhất lớp 6A. Trong đó:

+ Chủ ngữ: bạn Lan

+ Vị ngữ: là người học giỏi nhất lớp 6A.

Đây là câu có đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ.

2. Chữa lại câu sai cho đúng

Câu b ở mục II.1 là câu sai bởi đây là một câu thiếu vị ngữ. Nguyên nhân của việc tạo câu sai là do người viết lầm tưởng cụm chủ – vị Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, cung roi sắt, xông thẳng vào quân thù làm phụ ngữ cho danh từ trung tâm hình ảnh trong cụm danh từ làm chủ ngữ là một câu hoàn chỉnh.

Có thể chữa câu đó theo hai cách sau:

+ Thêm vị ngữ: Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, tung roi sắt, xông thẳng vào quân thù thật hào hùng, lẫm liệt.

Trong đó:

(+) Chủ ngữ: Hình ảnh Thánh Gióng… xông thẳng vào quân thù.

(+) Vị ngữ: thật hào hùng, lẫm liệt

+ Bỏ từ hình ảnh ở đầu để như câu a ở mục II.1 có đủ cả chủ ngữ và vị ngữ: Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, cung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.

– Câu c ở mục II.1 là câu sai bởi đây là câu thiếu vị ngữ. Nguyên nhân của việc tạo ra câu sai này là do người viết lầm tưởng cụm danh từ có thành phần giải thích Bạn Lan, người học giỏi nhất lớp 6A là một câu hoàn chỉnh.

Có thể chữa câu đó theo hai cách sau:

+ Thêm vị ngữ Bạn Lan, người học giỏi nhất lớp 6A, được bầu làm lớp trưởng.

Trong đó:

(+) Chủ ngữ: Bạn Lan

(+) Vị ngữ: được bầu làm lớp trưởng

+ Thay dấu phẩy bằng từ là như câu d ở mục II.1 để có cả chủ ngữ và vị ngữ: Bạn Lan là người học giỏi nhất lớp 6A.

B. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Bài tập này yêu cầu các em đặt câu hỏi để kiểm tra ba câu dẫn tập ở SGK trang 129, 130 có thiếu chủ ngữ hay vị ngữ không.

 Muốn làm được bài tập, các em cần hiểu:

+ Chủ ngữ trong câu trả lời cho câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì?…

+ Vị ngữ trong câu trả lời cho câu hỏi: Là ai? Là con gì? Là cái gì? Làm gì? Như thế nào? Ra sao?

a. Từ hôm đó, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay không làm gì nữa. (Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)

– Câu hỏi: Từ hôm đó, những ai không làm gì nữa?

Trả lời: bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay.

– Câu hỏi: Từ hôm đó, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay như thế nào?

Trả lời: không làm gì nữa.

Kết luận: Câu trên có đủ hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ.

b. Lát sau, hổ đẻ được. (Vũ Trinh)

– Câu hỏi: Lát sau, con gì để được?.

Trả lời: Hổ

– Câu hỏi: Lát sau, hổ làm sao?

Trả lời: đẻ được.

Kết luận: Câu trên có đủ hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ.

c. Hơn mười năm sau, bác tiêu già rồi chết. (Vũ Trinh)

– Câu hỏi: Hơn mười năm sau, ai già rồi chết ?

Trả lời: bác tiêu

– Câu hỏi để xác định vị ngữ: Hơn mười năm sau, bác tiêu làm sao?

Trả lời: già rồi chết.

Kết luận: Câu trên có đủ hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ.

2. Bài tập này có hai yêu cầu:

– Xác định trong các câu dẫn ở SGK trang 130 câu nào là viết sai.

– Giải thích vì sao câu đó 

a. Kết quả của năm học đầu tiên ở trường Trung học cơ sở đã động viên em rất nhiều. 

Trong đó:

+ Chủ ngữ: Kết quả của năm học đầu tiên ở trường Trung học cơ sở. + Vị ngữ: đã động viên em rất nhiều.

Kết luận: Câu trên có đầy đủ hai thành phần: chủ ngữ và vị ngữ nên nó là câu đúng.

b. Với kết quả của năm học đầu tiên ở trường Trung học cơ sở đã động viên em rất nhiều.

Trong đó:

+ Trạng ngữ: Với kết quả của năm học đầu tiên ở trường Trung học cơ sở.

+ Vị ngữ: đã động viên em rất nhiều.

Như vậy, câu trên chỉ có thành phần trạng ngữ và vị ngữ, thiếu | thành phần chủ ngữ nên nó là câu sai.

Nguyên nhân: do người viết lầm tưởng cụm từ Với kết quả của năm học đầu tiên ở trường trung học cơ sở là chủ ngữ.

Cách chữa: bỏ quan hệ từ mới ở đầu câu thì câu này sẽ giống câu a: Kết quả của năm học đầu tiên ở trường Trung học cơ sở đã động viên em rất nhiều.

c. Những câu chuyện dân gian mà chúng tôi thích nghe kể

Câu trên mới chỉ có chủ ngữ – là một cụm danh từ (những câu chuyện dân gian mà chúng tôi thích nghe kể), thiếu vị ngữ nên nó là câu sai.

Nguyên nhân: do người viết lầm tưởng cụm chủ – vị chúng tôi thích nghe kể là chủ ngữ – vị ngữ của cậu. Cụm chủ – vị này chỉ là phụ ngữ của danh từ trung tâm câu chuyện. ?

 Cách chữa: thêm vị ngữ vào sau chủ ngữ: Những câu chuyện dân gian mà chúng tôi thích nghe kể luôn có kết thúc hậu.

d. Chúng tôi thích nghe kể những câu chuyện dân gian.

Trong đó:

+ Chủ ngữ: Chúng tôi

+ Vị ngữ: thích nghe kể những câu chuyện dân gian.

Kết luận: Câu trên có đầy đủ hai thành phần: chủ ngữ và vị ngữ nên nó là câu đúng.

3. Bài tập này yêu cầu các em tìm những từ ngữ thích hợp làm chủ ngữ để điền vào chỗ trống.

Muốn tìm được từ ngữ thích hợp làm chủ ngữ để điền vào chỗ trống, các em phải dựa vào nội dung các từ ngữ cho sẵn ở từng trường hợp (bộ phận vị ngữ của câu) và đặt các câu hỏi với Ai? Con gì? Cái gì?

a. Câu hỏi: Ai bắt đầu học hát? – Chúng em, mọi người…

Chúng em bắt đầu học hát.

b. Câu hỏi: Con gì hót líu lo? – Mấy chú chim sơn ca (chim hoạ mi)… Mấy chú chim sơn ca hót líu lo.

c. Trăm hoa đua nhau nở rộ.

d. Mọi người cười đùa vui vẻ.

4. Bài tập này yêu cầu các em tìm những từ ngữ thích hợp làm vị ngữ để điền vào chỗ trống.

Bài tập này các em làm tương tự như bài tập 3. Tuy nhiên, ở bài tập này các em phải đặt câu hỏi với Làm gì? Làm sao? Như thế nào?…

a. Khi học lớp 5, Hải bắt đầu học võ.

b. Lúc Dế Choắt chết, Dế Mèn rất ân hận.

c. Buổi sáng, mặt trời mọc ở phía Đông.

d. Trong thời gian nghỉ hè, chúng tôi đã đi chơi rất nhiều nơi.

5. Bài tập này yêu cầu các em chuyển mỗi câu ghép dẫn ở SGK trang 130, 131 thành hai câu đơn.

Mỗi câu ghép đã cho đều gồm hai vế câu, mỗi vế tương ứng với một câu đơn, có đủ chủ ngữ, vị ngữ. Chuyển câu ghép thành các câu đơn nghĩa là tách riêng từng vế của câu ghép và thay dấu phẩy (,) (hoặc quan hệ từ) phân cách các vế câu bằng dấu chấm (.) và viết hoa chữ đầu câu.

a. Hổ đực mừng rỡ đùa giỡn với con. Hổ cái thì nằm phục xuống dáng mệt mỏi lắm.

b. Mấy hôm nọ, trời mưa lớn. Trên những hồ ao quanh bãi trước mặt, nước dâng trăng mênh mông.

c. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước. Trong hai bên bờ, rừng được dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa