Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử (Thúy Lan)

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử (Thúy Lan) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 29 | Soạn bài Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử (Thúy Lan) | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử (Thúy Lan)
soạn văn 6 soạn bài Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử (Thúy Lan)

Tác phẩm này là một văn bản nhật dụng. Khái niệm “văn bản nhật dụng không phải là khái niệm chỉ thể loại, chỉ kiểu văn bản. Nó chỉ đề cập tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của văn bản mà thôi. Cập nhật có nghĩa là kịp thời, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, cuộc sống hiện tại. Tính cập nhật thể hiện rõ nhất ở chức năng và đề tài: đề cập, bàn luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả, đánh giá những vấn đề, những hiện tượng gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng. Giá trị văn chương không phải là yêu cầu cao nhất đối với loại “văn bản nhật dụng”. Tuy nhiên đó vẫn là một yêu cầu quan trọng vì căn có hay mới làm cho người đọc thấm thía về tính chất thời sự nóng hổi của chính bản đề, mới có tính thuyết phục cao. Vì thế nhiều tác phẩm thuộc “căn bản nhật dụng”, vẫn có giá trị như một tác phẩm văn học. Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản, vì thế hình thức của nó rất đa dạng. Cần căn cứ vào đặc điểm về hình thức, trước hết là hình thức văn bản cụ thể, thể loại và phương thức biểu đạt để phân tích. Trong chương trình lớp 6, đó là những bài viết về di tích lịch sử (Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử), về danh lam thắng cảnh (Động Phong Nha), về mối quan hệ con người với môi trường thiên nhiên (Bức thư của thủ lĩnh da đỏ).

Trước khi đi vào trả lời các câu hỏi chi tiết, cần phải đọc chú thích ở SGK Ngữ văn 6, tập hai, trang 125 để nắm được đôi nét về thể loại của tác phẩm này.

“Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” là một bút kí của một nữ nhà báo đã từng chứng kiến những sự kiện xảy ra đối với cây cầu trong thời bình cũng như trong bom đạn chiến tranh. Tác giả vừa ghi lại sự kiện khá cụ thể, sinh. động vừa thể hiện cảm xúc, cảm nghĩ của mình.

1. Câu hỏi 1 SGK trang 127
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để trả lời câu hỏi này, cần phải đọc toàn bộ văn bản và các chú thích ở SGK để hiểu nội dung của tác phẩm. Khi đọc, chú ý đến các chi tiết về chiếc cầu được miêu tả trong từng đoạn và thời gian, không gian diễn ra các sự kiện. Đó chính là căn cứ để chia đoạn. Để nêu lên nội dung chính và ý nghĩa của từng đoạn khi đọc nên chú ý ghi ra những ý tập trung nhất, khái quát nhất của từng đoạn.

b, Gợi ý trả lời 

Bài văn có thể chia làm ba đoạn: theo kết cấu tổng – phân – hợp của loại văn tự sự.

Đoạn mở đầu: Từ đầu đến: “Cầu Long Biên như một nhân chứng sống động, đau thương và anh dũng của thủ đô Hà Nội”. Đoạn này nêu lên những ý tổng quát về Cầu Long Biên trong hơn một thế kỉ tồn tại. Nó tạo cho người đọc ấn tượng đầu tiên về cây cầu đã chứng kiến bao sự kiện xảy ra với thủ đô Hà Nội và với đất nước ta.

Đoạn giữa: Từ “Cầu Long Biên khi mới khánh thành…” đến “…uấn dẻo dai, vững chắc”. Trong đoạn này tác giả đã ghi lại các sự kiện đã xảy ra với cây cầu và vai trò của nó. Đoạn này chính là đoạn nêu lên rõ nhất nội dung chính của bài: Cầu Long Biên như một nhân chứng sống động, đau thương và anh dũng. | Đoạn kết: Từ “Bây giờ cầu Long Biên… Càng xích lại gần với đất nước Việt Nam”. Tác giả tổng kết lại ý nghĩa lịch sử của cầu Long Biên trong xã hội hiện tại.

2. Câu hỏi 2 SGK trang 127
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để trả lời câu hỏi này cần đọc lại đoạn văn bản đó và đoạn Đọc thêm về cầu Chương Dương và Thăng Long, Ngữ văn 6, tập hai, trang 128-129. Đây là đoạn văn khá quan trọng nên khi đọc nên ghi chép ra những chi tiết miêu tả về chiếc cầu. Khi liệt kê, có thể viết song song những chi tiết của cầu Thăng Long và Chương Dương để dễ so sánh.

b. Gợi ý trả lời

Đoạn văn này cho ta biết được những thông tin chính xác và cụ thể về cây cầu Long Biên.

Về tên gọi: lúc đầu khi mới khánh thành, cây cầu mang tên viên Toàn quyền Pháp ở Đông Dương lúc đó là Đuy-me. Nhưng đến năm 1945 cầu được đổi tên thành cầu Long Biên.

Về quy mô của câu: chiều dài của cầu là 2290m, nặng tới 17 nghìn tấn.

Về hình dáng: nhìn từ xa, cầu Long Biên như một dải lụa uốn lượn vắt ngang sông Hồng.

Thời gian xây dựng: Cầu là một trong những kết quả của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Cuộc khai thác đó diễn ra từ 1897 – 1914. Vì thế mục đích của thực dân Pháp xây dựng cây cầu này là phục vụ cho cuộc khai thác, vơ vét nhân lực, vật lực của Việt Nam.

Về kỹ thuật: Cầu Long Biên được coi là một thành tựu quan trọng trong thời văn minh cầu sắt. 

Với những con số chính xác, chân thực, tác giả đã bước đầu khơi gợi trong ta niềm tự hào, yêu mến với cây cầu.

Nhưng cũng vô cùng đau xót khi tác giả cho chúng ta biết rằng, để xây dựng nên chiếc cầu này đã biết bao người dân phải đổ xương máu, nhất là các dân phu người Việt Nam phải bỏ mạng tại đây vì sự đối xử tàn nhẫn của các ông chủ người Pháp.

Ở đoạn văn này, tác giả đã cung cấp cho người đọc những thông tin rất ý nghĩa và khá toàn diện về lịch sử của cây cầu. Nó vừa gợi lên trong ta niềm tự hào về cây cầu chính là một thành tựu kỹ thuật trong những năm cuối thế kỉ XIX; nhưng cũng khiến ta không khỏi xót xa trưới cái chết của hàng nghìn người để làm nên cây cầu.

Khi so sánh với những thông tin về hai cây cầu Thăng Long và Chương Dương ở phần đọc thêm, ta dễ dàng nhận thấy quy mô cầu Long Biên nhỏ hơn, đơn giản hơn so với cầu Thăng Long nhưng lớn hơn cầu Chương Dương. Nhưng nếu so sánh về mặt thời gian, tính chất thì cầu Long Biên được xây dựng trước hai cây cầu đó hơn hai phần ba thế kỉ. Và vào thời điểm cuối thế kỉ XIX, nó được coi là một thành tựu kĩ thuật hết sức quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và nó cũng đã trải qua bao thăng trầm suốt hơn một thế kỉ.

3. Câu hỏi 3 SGK trang 127
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để trả lời câu hỏi này cần phải đọc kĩ đoạn văn bản và ghi lại các sự kiện mỗi thời gian đã diễn ra và cảnh vật được miêu tả. Đó là sự ghi chép khá cụ thể, sinh động của tác giả nên cần chú ý, nó sẽ cho ta những kiến thức rất bổ ích về lịch sử.

Để thấy sự khác nhau trong cách kể ở hai đoạn cần vận dụng kiến thức về người kể chuyện. Người kể chuyện là người kể cho chúng ta nghe về toàn bộ câu chuyện. Có lúc người đó đứng ngoài câu chuyện, có những lúc lại xuất hiện với vai trò là một nhân vật trong truyện. Tuỳ từng vai trò ấy mà cách kể, cách biểu đạt cảm xúc cũng khác nhau.

b. Gợi ý trả lời 

Trong đoạn văn này cầu Long Biên đã được tác giả miêu tả ở nhiều góc độ khác nhau. Phong cảnh ở hai bên (phía Gia Lâm và Hà Nội) được miêu tả qua điểm nhìn từ cầu. Đó là khung cảnh yên bình, sung túc của bãi mía, nương dâu, bãi ngô xanh mướt. Cái màu xanh ấy gợi lên trong lòng người đọc cảm giác của sự ấm áp, bình yên. Từ cầu nhìn về Hà Nội lại thấy ánh sáng lấp lánh của ánh đèn mọc lên như sao sa, ánh sáng lung linh, huyền ảo ấy như sáng bừng lên trong lòng tác giả, làm cho Hà Nội trở nên quyến rũ, đẹp đến lạ kì.

Cảnh vật thanh bình là thế, lung linh là thế nhưng cũng có lúc rất dữ dội với dòng chảy cuồn cuộn của sông Hồng khi mùa lũ về. Đó như là một sự thử thách sự vững chắc của cây cầu, của “một dải lụa đào mềm mại bắc qua sông Hồng”. Dòng lũ đang cuồn cuộn, đỏ ngầu như muốn cuốn phăng đi tất cả, cây cầu cũng đung đưa, song vẫn dẻo dai, vững chắc.

Không chỉ có thế, cây cầu còn là nơi chứng kiến những sự kiện của Hà Nội những ngày chiến tranh, bom đạn ác liệt. Vẫn còn nguyên đó dấu tích của cái ngày mùa đông 1946, những người dân của Hà Nội, cả Trung đoàn Thủ đô phải hành quân qua cầu lên chiến khu kháng chiến mà vẫn “đêm mơ Hà Nội dáng siêu thơm”. Và đau xót hơn khi “chiếc cầu thân thương ngày ấy trở thành mục tiêu ném bom dữ dội nhất của không lực Hoa Kỳ”. Cũng bởi vì vị trí chiến lược vô cùng quan trọng của cầu Long Biên – là đường vận chuyển lương thực, súng đạn, nhân lực từ đồng bằng Bắc Bộ lên chiến khu Việt Bắc, nên giặc Mĩ không ngừng đánh phá, cản bước tiến của quân ta. Không phải một lần mà liên tục bắn phá, ngày một dữ dội hơn, có lúc làm cho nó “rách nát tả tơi như ứa máu”. Và khi đó biết bao nhiêu chiến sĩ đã ngã xuống để quyết tâm bảo vệ cây cầu như bảo vệ chính sự sống của mình, bảo vệ niềm tự hào của quân dân Hà Nội. Vì thế mà chúng cứ phá đến đầu ta khắc phục đến đó, và cây cầu vẫn sừng sững giữa mênh mông trời nước.

Tất cả cảnh vật và sự kiện được miêu tả ở đây cho ta thấy vẻ đẹp, vai trò, ý nghĩa của cây cầu. Nó đã từng chứng kiến cảnh thanh bình, êm ả của cuộc sống bình yên, nhưng cũng có lúc nó rung lên trước sức huỷ hoại của thiên tai và mất mát vì sự tàn phá của bom đạn kẻ thù. Trên mình nó đã từng mang bao vết thương của hàng tấn bom đạn dội xuống. Và đến nay, khi dạo bước trên cây cầu lành lặn, vững chãi như ngày nào, ta không còn nhìn thấy tàn tích của sự phá hoại, nhưng không ai có thể quên được những ngày tháng đau thương mà oanh liệt ấy.

Tác giả đã rất khéo léo, tự nhiên đưa vào trong đoạn văn những đoạn thơ, khúc nhạc rất thiết tha, sâu lắng. Điều đó vừa làm tăng thêm tính biểu cảm cho đoạn văn lại bổ sung cho chủ đề của tác phẩm: Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử. Qua đoạn thơ, chỉ bốn câu lục bát cho thấy cây cầu đã từng chứng kiến cảnh đông vui, tấp nập đi lại buôn bán của người dân khắp nơi đổ về kinh kì buôn bán. Nhưng nếu chỉ có thế thì có vẻ thơ quá, mộng quá chăng? Tác giả lại khéo léo đưa vào một đoạn trong ca khúc Ngày uế của nhà thơ Chính Hữu và nhạc sĩ Lương Ngọc Trác, ở đó khắc họa hình ảnh những đoàn quân ra đi bỏ lại đằng sau “cả đô thành nghi ngút cháy”. Một lần nữa ấn tượng vì sự đau thương, mất mát lại trỗi dậy, in đậm trong ta. Chỉ với một vài đoạn thơ, khúc nhạc ngắn nhưng tác giả đã rất thành công trong việc bổ sung thêm thông tin để khắc hoạ nổi bật chủ đề của tác phẩm.

Cách kể của tác giả trong bài văn có sự thay đổi: Lúc đầu người kể chỉ là người đứng ngoài câu chuyện, làm nhiệm vụ thuyết minh về một cây cầu một cách khách quan, cung cấp cho người đọc những thông tin cụ thể, chính xác. Nhưng đến đoạn thứ hai, khi kể về những sự kiện mà cầu Long Biên phải chứng kiến thì tác giả đã xuất hiện trực tiếp với vai trò là nhân vật “tôi”. Bởi vì đến đây khi cảm xúc trào dâng, không kìm nén được lòng mình tác giả như muốn được giãi bày, được thổ lộ. Chính vì thế đoạn văn đã xuất hiện những từ hết sức biểu cảm, thể hiện cảm xúc mãnh liệt của con người: nhớ như in, nằm sâu trong trí óc, yêu thương, quyến rũ, khát khao, như ứa máu, rách nát, tả tơi, nước mắt ứa ra, đứt lòng đứt ruột… tác giả không còn điềm tĩnh để giữ được giọng thuyết minh có vẻ khách quan như ban đầu. Người kể thốt lên sự đau thương, mất mát của cây cầu thân thương ấy như chính mình đang phải chịu nỗi đau mất đi một phần cơ thể vậy. Hóa thân thành nhân vật của câu chuyện sẽ là cách tốt nhất để tác giả thể hiện chân thực, sâu sắc tình cảm của mình.

4. Câu hỏi 4 SGK trang 127
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đây là một câu hỏi tương đối khó nên phải đọc lướt qua một lần nữa tác phẩm để thấy được chủ đề và nội dung tư tưởng của toàn văn bản. Thêm vào đó, cần đọc kỹ chú thích trong SGK về hai từ “chứng nhân” và “chứng tích” để thấy được ý nghĩa cụ thể của hai từ trong văn cảnh cụ thể. Và cũng phải hiểu thế nào là sự kiện lịch sử thì mới liệt kế được những chi tiết chính xác và có ý nghĩa. Sự kiện lịch sử là những sự việc xảy ra trong một giai đoạn lịch sử nhất định, có ý nghĩa ít nhiều quan trọng đối với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của một địa phương, vùng, một quốc gia.

b. Gợi ý trả lời

Trước hết cần khẳng định “tác phẩm là đứa con tinh thần của nhà văn”. Vì thế khi đặt tên cho tác phẩm của mình, tác giả cũng phải đắn đo, suy nghĩ, lựa chọn khi đặt tên cho “đứa con” ấy. Khi tác giả lựa chọn một tiêu đề nghĩa là nó phải bao quát toàn bộ nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Khi đọc tên tác phẩm lên, chúng ta có thể hiểu được trong đó viết gì. Chính vì vậy, không thể tuỳ tiện thay thế các từ ngữ trong tên của một tác phẩm nào. Ở đây, sự thay thế không đơn thuần chỉ là thay thế từ ngữ mà như vậy sẽ làm mất đi giá trị của tiêu đề và cũng không thể nói lên được vai trò, ý nghĩa lịch sử của cầu Long Biên. Bởi vì chứng tích đơn giản chỉ là những vết tích hay hiện vật còn lưu lại, có giá trị làm chứng cho một sự việc đã qua. Nhưng ở đây tác giả rất có lí khi dùng từ chứng nhân. Theo Từ điển Tiếng Việt, trang 186: “Chứng nhận là người làm chứng”, có nghĩa là từ này dùng để chỉ những người có mặt, chứng kiến một sự việc gì đó đã xảy ra. Ở đây tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa, làm cho cây cầu không còn là một vật vô tri nữa mà nó giống như một nhân chứng của lịch sử. Thêm vào đó, khi sử dụng biện pháp này, tác giả cũng dễ dàng thổi hồn mình vào đối tượng và thể hiện sâu sắc tư tưởng, tình cảm của mình, cùng nhau nêu bật được ý nghĩa lịch sử của cầu Long Biên.

Và với vai trò là một chứng nhận, cầu Long Biên đã chứng kiến bao sự kiện quan trọng của thủ đô và của đất nước trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, từng đoàn người hành quân qua câu, bỏ lại đằng sau đô thành đang khói lửa mà lòng đau xót, luyến lưu. Trong kháng chiến chống Mĩ: Hai lần giặc Mĩ mang bom bắn phá miền Bắc (lần thứ nhất năm 1964, lần thứ hai năm 1969), Hà Nội đều phải chịu hậu quả hết sức nặng nề và cầu Long Biên cũng trở thành mục tiêu tấn công ác liệt. Và nhất là năm 1972, với tham vọng tạo một thắng lợi có tính chất quyết định, đánh sập hoàn toàn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tổng thống Mĩ Ních-xơn đã lệnh cho không lực Hoa Kì mang bom rải thảm miền Bắc Việt Nam. Lần đó cầu Long Biên bị bom đánh tả tơi tưởng chừng không thể tồn tại được. Nhưng cây cầu vẫn hiên ngang tồn tại sừng sững giữa mênh mông sông nước như minh chứng hùng hồn về sức sống bất diệt của con người Việt Nam trước sự huỷ diệt của chiến tranh.

Đây là những chi tiết lịch sử hết sức sinh động, chân thực như một thước phim quay chậm, đưa ta trở lại thời kỳ của bão lửa chiến tranh. Đó là thời kì con người phải gồng mình lên để chống chọi với mất mát đau thương đến tột độ để chiến đấu và chiến thắng. Đó cũng là thời kì viết lên những bản anh hùng ca bất diệt về sức sống, sức chiến đấu của con người Việt Nam. Và cây cầu Long Biên cũng trở thành một chứng nhân sống động, đau thương mà anh hùng cho lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng. 

Câu kết bài là một cách kết đầy thú vị, để lại nhiều dư vị trong lòng người đọc. Câu rút gọn trong SGK đã cắt bớt đi một phần quan trọng “đặng bắc một nhịp cầu vô hình nơi du khách” của câu văn. Nếu cắt bỏ đi một số lượng từ ngữ rất ít ỏi đó thôi cũng sẽ làm mất đi cái biểu cảm của câu văn. Bởi với một câu ngắn ngủi ấy tác giả đã một lần nữa khẳng định vai trò, ý nghĩa của cây cầu đối với hiện tại và tương lai của đất nước. Rất tinh tế, thi vị cây cầu bằng xi măng, cốt thép tưởng như chỉ là vật vô tri, vô giác ấy lại nối được sợi dây vô hình nào đó giữa nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế, cho chúng ta xích lại gần nhau hơn, yêu thương, thân ái hơn. ?

Sở dĩ có thể nói nhịp cầu bằng thép của cầu Long Biên lại có thể trở thành nhịp cầu vô hình nổi những con tim bởi vì: Cầu Long Biên là một chứng nhân “lịch sử sống động, đau thương và anh hùng của người Việt Nam khiến du khách nước ngoài phải trầm ngâm, đứng ở nhiều góc độ, ghi lại hình ảnh chiếc cầu mỗi khi đến thăm nơi đây”. Cây cầu sẽ đi vào lịch sử, đi vào lòng mỗi người dân đất Việt như một Ngã ba Đồng Lộc, một thành cổ Quảng Trị đau thương nhưng vô cùng anh dũng.

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Duy đã có một bài viết rất hay về cây cầu Long Biên vững chãi, thơ mộng và anh hùng:

“Đi ngang sông Hồng thời ấy, áo tứ thân và nón quai thao, nắng lẳng lơ vờn tóc đuôi gà, gió chồng ghẹo yếm đào, khăn mỏ quạ, bàn chân đất lì chia trên mặt nhựa gánh gồng, guốc mộc khua lóc cóc giữa mặt sông.

Đi ngang sông Hồng thời ấy, mũi giây Giôn vênh váo điệu đàng, khăn xếp áo lương, nghênh ngang xe tay, ô Tây che má phấn tân thời, gót hiến binh đếm nhịp dùi cui, tàu hoả xả rơi than đổ xuống thuyền chài, ó ý nỉ non cây nhị hồ hát xẩm. 

Đi ngang sông Hồng, ta vẫn đi trên cây cầu già cũ, cầu Long Biên 80 tuổi thọ gồng mình mang chật chội dòng đời.

Đã qua đầy nửa thế kỉ sục sôi, những thầy trò Đông Kinh Nghĩa Thục, những chuyến xuất dương bí mật, những xe tù về Hỏa Lò, người lên đoạn đầu đài, người lưu đày phát vãng.

 Đã qua đây máu nhỏ giọt gót giày phát xít, người Nhật mà cái đại chiến thế giới thứ hai, những trận bom Mĩ và Tàu ô, Tàu vàng đạo quân thổ phỉ.

Đã qua đây đội vũ trang trong đoàn biểu tình, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với Ba Đình, sông Hồng hát lời “Tuyên ngôn Độc lập”. 

Đã qua đây ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, tiêu thổ phố phường và lên chiến khu, Trung đoàn Thủ đô rút qua cầu thể trở lại; khoá sau lưng, Hà Nội cháy bừng bừng.

Đã qua đây những người về tràn năm cửa ô, lời thề cũ lấy máu mình mà giữ.

[…]

Tổ sơn cầu Long Biên từng có anh thương binh miền Nam tập kết, anh ra đây theo hiệp định Giơ-ne-vơ, mòn mỏi tháng năm chờ trở lại quê nhà, nghe câu hát ru con, mà mất ngủ. Anh đợi suốt thời Bắc Nam chia cắt lặng lẽ sơn cầu hết đầu Bắc sang đầu Nam, nhớ vợ bằng nỗi nhớ Ngưu Lang.

Đi qua cầu Long Biên có một quãng thời bình tuyệt đẹp, sinh viên tới trường gương mặt sáng sủa như gương, người đổ lên khu gang thép Thái Nguyên, sang công trường thủy lợi Bắc Hưng Hải, người về xây dựng thủ đô và dựng nhà máy; câu lạc bộ có chương trình dạy nhảy; Hồ Bảy Mẫu biến ra công viên, lối mòn Cổ Ngư thành đại lộ Thanh Niên.

Đi qua cầu Long Biên những chiếc xe đạp không có khóa, cái ví tiền rơi có người nhặt trả, đốt đuốc mà tìm không thấy thằng ăn cắp, không thấy bóng dáng con phe, không chen lấn, không hỗn loạn, cái nhìn tin yêu và lòng thanh thản.

Đi qua cầu Long Biên trên nóc câu bỗng xuất hiện những ụ súng đại liên 12 li 7, những người lính cảm tử còn rất trẻ. Cuộc chiến tranh mới đã tới độ khốc liệt. Thần Sấm, Con Ma rú suốt ngày đêm. Bom dội Đức Giang, Văn Điển, Khâm Thiên… Những trận không chiến dữ dội, đạn pháo nổ trắng trời và máy bay Mĩ cháy, còi báo động báo yên, vẫn có lúc thảnh thơi, ngồi bệt uống bia hơi bên miệng hầm trú ẩn. 

Đi qua cầu Long Biên, nườm nượp đoàn người sơ tán, những đứa trẻ Hà Nội có thêm quê hương ở thôn nào đó, người thợ có thêm khẩu súng trên vai, chiếc cặp lồng cơm có thêm chỗ toòng teng trên tay lái xe đạp.

Đi qua cầu Long Biên, dằng dặc quân vào Nam ra Bắc, dàn tên lửa đất đối không chẳng thèm phủ bạt, những toa tàu để trần: đại bác, xe tăng, hàng viện trợ không hoàn lại, rối rít phóng viên và nhà thơ nước ngoài (…).

Đi qua cầu Long Biên, xác B.52 gom nhạt chở về Sở Thú, lũ lượt giặc lái Mĩ giã từ các Hin-tơn Hà Nội, những đợt trao trả kẻ đã thành người lẫn kẻ đã thành ma..

 (Trích Đi qua cầu Long Biên những năm sau chiến tranh

của Nguyễn Duy)

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa