Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Lao xao (Duy Khán)

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Lao xao (Duy Khán) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 27 | Soạn bài Lao xao (Duy Khán) | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Lao xao (Duy Khán)
soạn văn 6 soạn bài Lao xao (Duy Khán)

Vài nét về tác giả và tác phẩm

Duy Khán tên đầy đủ là Nguyễn Duy Khán (1934 – 1995) quê ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, từng làm giáo viên trong quân đội, thường xuyên đi sát các đơn vị chiến đấu, tham gia chiến dịch Đường 9 – Nam Lào 1971, chiến dịch Quảng Trị 1972, là phóng viên tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Các tác phẩm đã xuất bản: “Trận nới” (thơ, 1972); “Tuổi thơ im lặng” (hồi kí, 1986); “Tâm sự người đi” (thơ, 1987).

Năm 1987, Duy Khán đã được nhận Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn  Việt Nam với tác phẩm “Tuổi thơ im lặng”. Đây là tập hồi kí tự truyện của tác giả. Trong đó, ông đã dựng lên một bức tranh đầy chất thơ về cuộc sống làng quê thuở trước với những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, những con người tuy nghèo khó, tất cả nhưng giàu sức sống và mang trong mình nét văn hoá độc đáo của làng quê. Bài Lao xao được trích từ tác phẩm Tuổi thơ im lặng.

1. Câu hỏi 1 SGK trang 113
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc thật kĩ văn bản, thống kê trình tự các loài chim được nói đến, tìm xem các loài chim có được sắp xếp theo từng nhóm loài gần nhau hay không? Chú ý đến cách kể, tả, cách xâu chuỗi hình ảnh trong bài của tác giả Duy Khán.

b. Gợi ý trả lời

Bài văn miêu tả về thế giới loài chim ở không gian đồng quê lúc thời tiết chớm sang hè theo một trình tự hợp lý, với cách dẫn dắt mạch văn thật tự nhiên. Trên nền cảnh cỏ cây, ong bướm đều “lao xao” trước vẻ đẹp rực rỡ mùa hè, tác giả đã đưa người đọc vào thế giới của loài chim với hai nhóm lành, ác khác nhau.

Nhóm chim lành được nhắc đến ngay đoạn đầu văn bản: bồ câu, chim ri, chim sáo, sáo sậu, sáo đen. Đoạn sau nói đến nhóm chim ác: diều hâu, quạ, cắt và cuối cùng một loài chim dám đánh nhau với chim dữ là chèo bẻo.

Đoạn văn miêu tả loài bìm bịp có nhắc đến sự lí giải nguồn gốc loài chim này theo truyện dân gian rất thú vị. Khi nhà văn khẳng định: “khi nó kêu thì một loạt chim xấu, chim ác mới ra mặt”. Đoạn văn này có vai trò liên kết đoạn đầu (nói về chim lành) với đoạn sau (nói về chim ác) tạo thành một bức tranh thống nhất, sống động về thế giới loài chim.

Rõ ràng, các chi tiết, hình ảnh được tác giả chọn lọc rất kĩ, có mục đích và được xâu chuỗi theo một trình tự chặt chẽ, không thể thay đổi. Sự xuất hiện của mỗi hình ảnh đều được báo trước, đồng thời, nó lại là cơ sở để nhà văn có thể chuyển sang hình ảnh tiếp theo.

Tiếng “Các… các … các” là cái cớ để Duy Khán viết về con bộ các Câu đồng dao nhắc tới hàng loạt loài chim khác họ hàng “dây mơ rễ má” với chú chim này. Tiếng kêu của bìm bịp báo hiệu sự xuất hiện của những con quạ, cắt, diều hâu… và có viết về các loài chim ác, nhà văn mới dẫn dắt được người đọc tới sự yêu quý, thán phục chú chim bèo bẻo dũng cảm, đáng yêu.

2. Câu hỏi 2 SGK trang 113
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Dựa vào sự phân chia loài chim theo hai nhóm: lành và ác ở câu 1, chú ý đến việc tác giả miêu tả đặc điểm hình dạng, màu sắc, tiếng hót, môi trường sống và hoạt động của hai nhóm chim này.

Qua sự miêu tả đó, nhận xét về tài quan sát tinh tế của nhà văn và tình cảm gắn bó với thiên nhiên làng quê của tác giả.

b. Gợi ý trả lời

Tác giả đã miêu tả thế giới loài chim rất đặc sắc và tinh tế. Qua việc miêu tả hình dạng, tiếng hót, tiếng kêu của chúng, nhà văn đã làm nổi bật đặc tính riêng của từng loài.

Bồ các với tiếng kêu “các, các”, vừa bay vừa kêu như bị ai đuổi đánh. Họ hàng nhà bồ các là chim ri, sáo sậu, sáo đen, tu hú đều hiền lành, mang niềm vui đến cho trời đất.

Loài diều hâu mũi khoằm, đánh hơi tinh, chuyến bay đến ăn xác chết và bắt gà con. Chèo bẻo như mũi tên đen, mang hình đuôi cá từ đâu bay đến. Ngày mùa, chèo bẻo thức suốt đêm, gọi người dậy từ tờ mờ sáng với tiếng “chè cheo chét” và chuyên trị kẻ ác.

Chim cắt cánh nhọn như dao bầu chọc tiết lợn, khi đánh nhau thì xỉa bằng cánh. Tác giả miêu tả thế giới loài chim trong môi trường sống, hoạt động của chúng và trong mối quan hệ giữa các loài, mỗi loài được miêu tả lại có thêm lời bình luận ngắn gọn của tác giả, đan xen giữa tả và kể.

Sau bài đồng dao về các loài chim ri, sáo sậu, sáo đen tác giả đã viết về loài chim tu hú. Tu hú “to nhất họ nhà sáo”, tiếng kêu của nó báo hiệu mùa vải chín, là khi quả chín đỏ, “đầy ụ như mâm xôi gấc”. Tiếng tu hú thưa dần và bay đi là báo hiệu mùa quả hết. Loài bìm bịp liên quan đến tích về sự trừng phạt một ông sư dữ như hổ mang, giới bắt hoá thân làm con bìm bịp, khoác bộ cánh nâu, đêm ngày chui rúc trong bụi cây. Khi bìm bịp kêu cũng là lúc một loại chim ác xuất hiện.

Đặc biệt đoạn miêu tả về loài diều hâu chuyện bắt gà con và những trận chiến giữa diều hâu và chèo bẻo; chèo bẻo đánh quạ chết rũ xương; chèo bẻo đánh nhau với chim cắt là một bức tranh sống động về loài chim. Loài chim cũng có nỗi sợ riêng, kẻ yếu sợ kẻ mạnh, chúng cũng có những mâu thuẫn trong môi trường sống và hoạt động của mình, cũng giải quyết mâu thuẫn ấy bằng bạo lực.

Họ hàng với nhà diều hâu là loài quạ: quạ đen, qua khoang “lia lia láu láu” đều sợ loài chèo bẻo. Chèo bẻo lại sợ chim cắt. Chim cắt có vũ khí lợi hại là đôi cánh làm nhiều loài khác phải sợ. Nhưng cuối cùng họ nhà chèo bẻo đã trị tội chim cắt.

Có lẽ vì chèo bẻo hay trị tội loài diều hâu xấu xa chuyên đi bắt gà con, và chèo bẻo đã có ích khi đánh thức người dậy từ tờ mờ sáng và ngày mùa nên đã được tác giả dành nhiều thiện cảm cho chúng trong tuổi thơ của mình.

“Chúng nó trị kẻ ác. Thì ra, người có tội khi trở thành người tốt thì tốt lắm”.

Trong mỗi đoạn văn miêu tả về từng loài chim cụ thể, nhà văn đều kết hợp đan xen giữa tả, kể và bình luận làm mạch văn linh hoạt, phong phú trong giọng điệu.

Tả về loài chim lành, nhà văn tập trung tả dáng bay, tiếng hót: đàn chim ngói “sạt qua”, “kéo nhau về hướng mặt trời”. Nhạn “vùng vẫy tít

mây xanh”. Họ nhà sáo có tiếng hót “mang vui đến cho giới đất” thân thương, gần gũi với loài người: sáo sậu, sáo đen hót, đậu cả trên lưng trâu mừng được mùa. Tác giả vừa bình luận chung: “họ nhà sáo đều hiện cả”, vừa đan xen kể về con sáo nhà bác Vui to toẹ học nói; vừa kể tiếng chim tu hú báo hiệu mùa vải chín và về việc cả làng có mỗi cây tu hú ở vườn ông Tấn.

Nói về loài chim ác, dữ, tác giả miêu tả về mối quan hệ đấu tranh sinh tồn giữa các loài: cuộc tranh cướp mồi giữa diều hâu và chèo bẻo, giữa chèo bẻo và chim cắt.

Nói về chim cắt, tác giả đưa ra nhận định: “Chúng là loài quỷ đen vụt đến, vụt biến… cho đến nay chưa có loài chim nào trị được nó”.

Bằng sự quan sát tinh tường và tình cảm yêu mến cảnh sắc quê hương, tác giả đã làm sống lại bức tranh quế có thiên nhiên hoa lá, có ong, bướm, chim, sáo với những nét hết sức đặc trưng bằng một giọng văn giản dị, chân thật man mác chất thơ. Nét độc đáo là ở chỗ tác giả dường như đã hoà mình vào kí ức tuổi thơ, nhìn cảnh vật bằng đôi mắt trẻ thơ hồn nhiên, trong trẻo.

3. Câu hỏi 3 SGK trang 113
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Chú ý những lời dẫn, bình luận của tác giả (nghe đâu…); những câu có vần, điệu. Cần vận dụng kiến thức về văn học dân gian, tìm đọc những câu đồng dao, thành ngữ, truyện cổ tích có liên quan (Ví dụ: Truyện Chèo bẻo và ác là; Sự tích chim tu hú; Sự tích con chim bìm bịp).

b. Gợi ý trả lời

Trong Lao xao, Duy Khán đã sử dụng chất liệu văn hoá dân gian một cách nhuần nhuyễn và đặc sắc. Đó là bài hát đồng dao về họ hàng loài chim sáo được nhắc lại qua lời một cô bé:

Bố các là bác chim ri

Chim ri là di sáo sậu

Sáo sậu là cậu sáo đen

Sáo đen là em tu hú

Tu hú là chú bồ các

Những thành ngữ cũng xuất hiện với mật độ dày đặc: “Dây mơ rễ má”; “Kẻ cắp gặp bà già”; “Lia lia láu láu như quạ vào chuồng lợn”. Ngoài ra, nhà văn còn kết hợp giữa sự giải thích nguồn gốc các loài chim trong cổ tích (chèo bẻo, bìm bịp) với lời miêu tả của mình.

Ngay cả cách cảm nhận về loài chim trong mối quan hệ với con người, với công việc nhà nông của tác giả cũng thấm đậm chất dân gian: Diều hâu bắt trộm gà con, quạ vào chuồng lợn, chèo bẻo đánh thức người từ tờ mờ sáng trong ngày mùa… Cách cảm nhận đầy chất dân gian như thế đã làm cho mạch văn tự nhiên, dung dị, gần gũi với cuộc sống con người.

Tuy nhiên, cái nhìn thiện cảm hay ác cảm về loài chim xuất phát từ cái nhìn phổ biến theo quan niệm trong dân gian từ xa xưa, không tránh khỏi định kiến và thiếu chính xác.

Đoạn văn nói về con bìm bịp, tiếng kêu của bìm bịp là xuất hiện loài ác, dữ là không đúng. Đó chỉ là cách lý giải theo dân gian và là ý kiến chủ quan của tác giả.

Nhìn toàn cảnh, Lao xao là một bức tranh quê đầy đủ âm thanh, hương sắc của hoa lá, ong bướm, chim sáo rất sinh động và tươi tắn.

4. Câu hỏi 4 SGK trang 113.
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc lại toàn bộ văn bản, tổng kết kiến thức trong phần Gợi ý trả lời của các câu hỏi trên để có một cái nhìn tổng quát.

b, Gợi ý trả lời

Bài văn đã cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức mới mẻ về thiên nhiên nơi thôn dã. Thế giới loài chim phong phú có liên quan đến cách lí giải của dân gian vừa độc đáo, vừa lí thú về chim lành, chim ác. Môi trường sống và hoạt động của chúng có nét gần giống với con người. Chúng cũng có những mâu thuẫn (chèo bẻo và loài diều hâu, quạ, cắt), cũng giải quyết mâu thuẫn bằng những cuộc chiến ác liệt. Ngoài ra, ta còn được thấy tiếng hót đặc trưng của từng loài: tiếng “các, các” của loài bồ các, tiếng chim tu hú báo hiệu mùa hè, mùa vải chín… | Về cảnh sắc thiên nhiên, đó là một bức tranh hoa cỏ tươi đẹp lúc chớm hè. Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã đem đến cho người đọc một thiên nhiên sống động đa âm, đa sắc màu. Nào là hoa lan nở trắng xoá, hoa móng rồng thơm mùi mít chín, nào là từng chùm hoa dẻ cùng với ong bướm tung tăng bay lượn…

Đằng sau nên cảnh sắc ấy là một tình cảm gắn bó, yêu mến người, mến cảnh nơi làng quê của Duy Khán. Tình cảm ấy đã thổi hồn vào cảnh vật thiên nhiên nơi đây làm chúng vừa sống động, vừa thân quen.

Cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp ấy đã làm sống lại trong mỗi chúng ta tình yêu thiên nhiên đất nước, yêu vẻ đẹp bình dị, sống động của làng quê.

Có thể nói, Lao xao là một bức tranh quê xinh xắn và độc đáo, góp phần tô đẹp cảnh vật của quê hương, đất nước.

Tư liệu tham khảo

Trong tác phẩm của mình, Duy Khán đã sử dụng rất nhiều chất liệu dân gian; hò, vè, đồng dao, sự tích các loài chim. Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn một vài mẩu chuyện để thấy được sự vận dụng sáng tạo của nhà văn.

CHIM BÓI CÁ

Trên một cành tre mảnh dẻ, lướt xuống mặt ao một con chim bói cá đậu coi rất cheo leo.

Lông nó như tơ, mình nó nhỏ, mỏ nó dài, lông ức nó màu hung nâu, coi xinh lạ. Nó thu mình trên cành tre, cổ rút lại, đầu cúi xuống như kiểu soi gương. Nó lẳng lặng như vậy khá lâu, ai cũng tưởng nó nghỉ.

Vụt một cái, nó lao đầu xuống nước rồi lại vụt bay lên, nhanh như cắt. Trong cái mỏ dài và nhọn, người ta thấy một con cá nhỏ mình trắng như bạc, mắc nằm ngang.

Bay lên cành cao, lấy mỏ dập dập mấy cái, nó nuốt xong mồi, rồi lại đậu xuống nhẹ nhàng trên cành tre như trước.

(Lê Văn Hoè)

SÂN NHÀ CŨ

Ngoài sân, cây cối bùm tụm bên một mảnh đất dài nhưng hẹp lúc nào cũng ẩm, vì ánh nắng không lọt mấy. Na, hồng bì, lựu, cam sành, cây hồng quả, cây ổi lớn và cây đào chi chít cành. Tất cả quay vào giữa cây ngọc lan.

Đầu mùa hè, hoa ngọc lan chín trắng muốt, hương ngút ra tận đầu ngõ. Các dì tôi bắc ghế hái hoa lan, gài lên mái tóc, giắt lẫn vào đầu vành khăn.

Cái sân bé hoen mà lủng củng những cây. Đó là thế giới bí mật của cây và chim của tôi. Năm nào cũng có đôi chào mào đến làm tổ trong cành đào. Tháng năm, tháng sáu, những con chào mào non đường trổ lông cánh, chen đứng trên thành tổ ngóng ra. Tôi ngồi núp bên bể nước, say mê ngắm. Đến ngày chim mẹ, chim con rời tổ dắt nhau chuyển đi, tôi ngẩn ngơ buồn nhớ.

Sang năm không biết vẫn đội ấy hay đôi khác, có những con chào mào lại đến làm tổ trong cây đào.

Ở cây cam sành, cây hồng bì quanh năm có tổ rị đá. Những mấy tổ liền nhau, nhiều hàng chục con. Bọn ri đá vốn ăn ở thầm lặng, tiếng kêu và cánh bay không động lá, ở cũng như đi, nhẹ nhàng như không.

Dưới mặt đất mát rười rượi, la liệt các thứ xương rồng, mào gà, tía tô, kinh giới, vạn niên thanh, thài lài tía, cỏ tóc tiên. Trong lối đi kín đáo, những cậu cóc xù xì ngồi chầu nhau, ngẫm nghĩ, đôi chắc nghiến răng kêu kèn kẹt, ấy trời sắp mưa.

Góc sân còn có cây cau mốc trắng trổ vút lên, đeo trên lưng những tàu lá như chiếc áo tơi xanh. Về mùa mưa dầm gió bấc, thỉnh thoảng một chiếc mo meo rớt, ngã thình xuống đất. Đó là tiếng động duy nhất trong vườn cây còn vang lại trong tôi.

(Trích Tự truyện – Tô Hoài)

PHÍA SAU DÒNG CHỮ

Bằng một giọng văn hết sức giản dị, một lối viết cực kỳ chân thật, chỉ trong 100 trang sách, Duy Khán như đã làm sống lại cái làng quê nhỏ bé của anh gần nửa thế kỷ trước với gia cầm, chim chóc, cây cối, hoa lá, đồng ruộng, núi non… và nổi bật lên là số phận những con người lam lũ qua bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu biến cải… Những ai chưa sống ở thôn quê thuở trước, qua Tuổi thơ im lặng sẽ biết về vùng đất nhiều cảnh, nhiều người, nhiều việc không bao giờ còn trở lại. Những ai đã từng sống ở đó, qua tuổi thơ im lặng sẽ được thức dậy bao nhiêu kỷ niệm vui buồn.

(Hồng Diệu, Phía sau dòng chữ, NXB Thanh niên, 1997)

Trong truyện Lao xao, Duy Khán đã nói đến các loài chim: chèo bẻo, chim tu hú và loài bìm bịp có liên quan đến các tích dân gian. Có thể đọc các truyện dân gian dưới đây để tham khảo:

SỰ TÍCH CON CHIM BÌM BỊP

Thuở ấy có một ông thầy đã bốn mươi năm ròng rã ăn chay niệm Phật nơi cửa chùa mà vẫn chưa thành chính quả. Ông ta bèn quyết chí khăn gói ra đi để hỏi Tiên, Phật xem tại sao lại như vậy. Ông ta đi mãi, ròng rã đã sáu tháng trời. Một đêm nọ, đang ở trên một ngọn núi cao nhìn xuống chân núi, ông thấy có ánh đèn le lói bèn lần theo ánh đèn tới nơi, thì ra đó là một ngôi nhà lẻ loi giữa rừng. Nhà tu hành xin vào nghỉ trọ. Một người đàn bà ra mở cửa và nói là chồng đi vắng không dám cho đàn ông lạ mặt ngủ trọ.

Vào lúc đó, ông chồng của bà ta về, trông mặt mũi vô cùng hung ác. Hắn một mực đổ oan cho kẻ lạ mặt có ý sàm sỡ với vợ mình và đòi giết cho bằng được nhà tu hành. Nhà tu hành chắp tay kêu oan mà kể lể sự tình cùng gã đàn ông nọ. Nghe xong, gã đàn ông dịu sắc mặt, hỏi người tu hành:

– Ta đây giết đến bốn mươi mạng người rồi, đã sát hại nhiều sinh linh quá, không biết còn tu thành chính quả được không?

Nhà tu hành liên an ủi:

– Con người ta tu cốt ở tấm lòng, nếu thực lòng hối cải thì tất là đấng thiêng liêng sẽ biết tới.

Không ngờ vừa nói xong, kẻ cướp bèn phanh ngực áo lấy dao moi tim mình đưa cho thầy tu, và nhờ ông ta chuyển tới Tiên, Phật, nói xong liên tắt thở. Nhà sư đọc kinh siêu thoát cho gã đàn ông nọ, rồi lại khăn gói lên đường, mang theo quả tim của người vừa chết.

Nhà tu hành rời căn nhà lẻ loi ấy ra đi. Lúc này đang là mùa nóng. Trời nắng như thiêu như đốt. Ngày thứ nhất quả tim của người xấu số bắt đầu nặng mùi, nhà tu hành vẫn cứ gói kỹ lại mang đi. Ngày thứ hai, quả tim sinh giòi bọ, nhà tu hành vẫn kiên nhẫn mang đi. Đến ngày thứ ba thì mùi hôi thối nồng nặc, ruồi nhặng bay theo đen kịt. Không thể chịu được nữa, nhà tu hành bèn nghĩ bụng: “Tu cái gì thằng kẻ cướp ấy, thôi ta quẳng nó vào bụi cây cạnh đường rồi đi tiếp”. Đi được một đoạn, nhà tu hành gặp một ông cụ râu tóc bạc phơ nhưng mặt mày lại phương phi, hồng hào. Nhà tu hành bèn quỳ sụp xuống lạy rồi kể lể bao nhiêu công lao tu hành và đoạn đường vất vả, cùng ý định tới đây của mình. Cụ già đỡ nhà tu hành dậy và hỏi:

– Dọc đường có ai gửi gì không? 

Lúc này nhà tu hành mới tỉnh ngộ, bèn quay lại tìm quả tim mình đã vứt đi.

Tiếc cho phận mình sắp thành chính quả, nghe theo lời ông già, nhà tu hành trở lại loanh quanh tìm hết từ bụi này sang bụi khác và ngày này qua ngày kia mà chẳng thấy quả tim đấu. Cứ thế một ngày nọ ông ta chết ở bụi rậm và biến thành chim bìm bịp. Màu lông của chim nửa nâu nửa đen giống như chiếc áo của nhà tu hành ngày xưa vậy.

Người ta cho rằng sở dĩ chim bìm bịp cứ bay hay rúc hết bụi cây này sang bụi cây khác là để tìm lại quả tim nọ.

CHÈO BẺO VÀ ÁC LÀ

Cứ theo sổ bạ làng chim, thì ác là vốn là hương hào, ở bậc trên, đại quyền, hách dịch. Còn chèo bẻo chỉ là hàng cùng định, ở bậc dưới. Một hôm, ác là bắt chèo bẻo đi phu, rồi nhân lúc chèo bẻo vắng nhà, nó lên vào nhà. Thấy có mấy cái trứng, nó ăn tiệt.

Chèo bẻo về, mất trứng, đau đớn quá kêu la ầm ĩ. Sáo bay qua hỏi:

– Làm sao mà kêu la thể? Chèo bẻo than thở:

– Tôi đi phu, không biết có đứa nào ăn hết trứng của tôi! Sáo liền mạch:

– Chỉ thấy ác là vào trong tổ bác thôi!

Chèo bẻo nghĩ bụng: Quần này tệ thật! Không thể sống chung với nó được. Nghĩ đoạn, bèn xin ra khỏi làng, và dời tỏ đi nơi khác. Từ đó, chèo bẻo chỉ làm tổ ở cây cao, và không mấy khi bay đi xa tổ. Hễ khi nào ác là bay qua là cả họ nhà chèo bẻo kéo nhau ra, vừa đánh đuổi, vừa chửi âm trời!

(Ác là: loài chim quạ lông đen)

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa