Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Cây tre Việt Nam (Thép Mới)

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Cây tre Việt Nam (Thép Mới) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 26 | Soạn bài Cây tre Việt Nam (Thép Mới) | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Cây tre Việt Nam (Thép Mới)
soạn văn 6 soạn bài Cây tre Việt Nam (Thép Mới)

VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Thép Mới tên khai sinh là Hà Văn Lộc, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1925 tại thành phố Nam Định. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, và Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945, trải qua nhiều công tác và chức vụ quan trọng: Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, Tổng biên tập báo Giải phóng, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I và II. Ông đã được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì và nhiều huân chương khác. Ông mất ngày 28/8/1991 tại thành phố Hồ Chí Minh.

“Nói đến Thép Mới người ta thường nghĩ anh là một nhà báo, một nhà báo lớn được công chúng mến mộ, được bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao… Nhưng Thép Mới còn là một nhà văn hay đúng hơn là nhà báo đậm chất văn trong tư duy sáng tạo, trong cách diễn đạt và sử dụng ngôn từ… Chất lăn toát ra từ tâm hồn, suy nghĩ đến cách viết đã thấm đượm trong nội dung tận văn cần chuyển tải… Văn phong và tâm huyết của Thép Mới gắn liền với một thời hào sáng nhất của làng báo và làng văn cách mạng nước ta”. (Trích “Ngọn lửa trong ngòi bút Thép Mới” của Lê Quang Trang, báo Văn nghệ số 37 ngày 14 tháng 9 năm 1991).

Các tác phẩm chính: “Cây tre Việt Nam” (thuyết minh phim, 1958); “Hiên ngang Cu Ba” (bút kí, 1962); “Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam” (bút bi, 1965); “Trường Sơn hùng tráng” (bút bí, 1967), “Nguyễn Ái Quốc đến với Lê Nin” (thuyết minh phim, 1980); “Đường về Tổ quốc” (thuyết minh phim, 1980).

1. Câu hỏi 1 SGK trang 99
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để tìm được đại ý và bố cục của bài văn, phải đọc lại kĩ toàn bộ văn bản. Khi đọc cần chú ý đến nhân vật, đối tượng trung tâm được thể hiện trong tác phẩm, ở đó sẽ tập trung đại ý của bài văn. Đại ý là ý chính của toàn bài, nêu lên được nội dung khái quát nhất của tác phẩm và tư tưởng của tác giả.

Việc tìm được bố cục của bài không khó nhưng chúng ta cần phải có sự tinh tế khi đọc tác phẩm để nhận ra những nét thay đổi trong từng đoạn của bài văn. Có nhiều căn cứ để chia tác phẩm ra thành nhiều đoạn khác nhau: lời kể (nhân vật kể chuyện, các dấu hiệu ngữ pháp, sự thay đổi không gian, thời gian, nhân vật trong toàn văn bản).

b. Gợi ý trả lời

Đại ý của bài văn Cây tre Việt Nam là sự gắn bó thân thiết và lâu đời của cây tre với con người Việt Nam trong sinh hoạt, trong đời sống sản xuất, chiến đấu. Cây tre có những đức tính quý báu của con người Việt Nam: nhũn nhặn, ngay thẳng, thuỷ chung, can đảm. Cây tre sẽ đồng hành với người Việt Nam đi tới tương lai để xây dựng đất nước giàu đẹp.

Căn cứ vào bố cục của bài văn xuôi tự sự, có thể chia tác phẩm ra làm ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài.

Mở bài: Từ đầu cho đến “Cây tre là người bạn thân” đến “chí khí như người”: Giới thiệu chung về cây tre, cây tre có mặt khắp nơi, trên đất nước Việt Nam, mang những phẩm chất đáng quý.

Thân bài: Từ “Nhà thơ đã có lần ca ngợi… Tiếng sáo diều tre cao vút mãi” được chia thành các đoạn nhỏ như sau:

Đoạn 1: Từ “Nhà thơ đã có lần ca ngợi… chung thuỷ”: Cây tre gắn bó với con người trong đời sống sinh hoạt, lao động, sản xuất.

Đoạn 2: Từ “Như tre mọc thẳng… Tre, anh hùng chiến đấu!”: Cây tre gắn bó với con người trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm.

Đoạn 3: Từ “Nhạc của trúc… Tiếng sáo diều tre cao vút mãi”: Cây tre vẫn gắn bó với con người trong hiện tại và tương lai. 

Kết bài: (Phần còn lại): Cây tre là biểu trưng cho con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

2. Câu hỏi 2 SGK trang 99.
a. Hướng dẫn tìm hiểu

 Để trả lời câu hỏi này phải căn cứ rất sát vào văn bản. Nên đọc kĩ từ đầu đến “Tre anh hùng chiến đấu”. Khi đọc nhớ phân đoạn ra để nắm được vị trí của cây tre trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, trong lao động sản xuất, trong chiến đấu. Đồng thời, nên vừa đọc vừa ghi chép ra những chi tiết thể hiện các ý đó.

Để trả lời cho ý thứ hai của câu hỏi, cần liên hệ với kiến thức về phép nhân hoá đã học trong bài 22. Nhân hoá là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người, làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật… trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.

Ở đây tác giả đã dùng những từ vốn chỉ hoạt động tính chất của con người để chỉ hoạt động, tính chất của cây tre.

b. Gợi ý trả lời

Ngay phần mở đầu của bài văn, tác giả đã đưa một lời khẳng định khái quát: “Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam”. Sau đó nhà văn đã khéo léo liệt kê ra một hệ thống các luận điểm để chứng minh cho nhận định của mình.

Trước hết, tre gần gũi vì tre có mặt khắp nơi trên đất nước Việt Nam. Bằng một câu văn đơn giản chỉ là sự liệt kê các địa danh “Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi…”, tác giả đã khái quát cả chiều dài đất nước từ Nam ra Bắc. Câu văn hết sức nhịp nhàng, cân đối, đọc lên như có chất thơ, chất nhạc.

Với con mắt nhìn sâu sắc, tinh tế, tác giả đã nhìn thấy sự gắn bó khăng khít của cây tre với đời sống con người Việt Nam.

Tre bao bọc, âu yếm làng, bản, xóm, thôn. Rặng tre như tạo thành một mái nhà xanh yên bình, ấm áp, ở đó chúng ta đã giữ gìn được một nền văn hoá lâu đời – văn hoá Việt Nam. Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng trong suốt một nghìn năm Bắc thuộc, chúng ta chỉ mất nước chứ không mất làng, không mất nhà. Vì đằng sau các luỹ tre làng có vẻ bình dị, nhẫn nhịn, hiền hoà ấy tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt mà không một sức mạnh nào tiêu diệt được.

Cây tre còn che chở cho con người trong cuộc sống lao động, dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Chính vì thế, từ ngàn xưa nó đã trở thành “cánh tay của người nông dân”. Với cách so sánh này, cây tre đã trở thành một phần máu thịt, một phần cơ thể, gắn bó không thể thiếu với người nông dân Việt Nam.

Từ những khái quát ban đầu, tác giả dân đưa người đọc đến những hình ảnh hết sức gần gũi, bình dị của mỗi gia đình nông dân Việt Nam.

Tre đã trở thành người nhà, gắn bó, thân thiết với mọi lứa tuổi. Từ giang chẻ lạt, buộc mềm như mối tơ hồng thắt chặt mối tình thuỷ chung của đôi trai gái; đến những que chuyền, nguồn vui của trẻ thơ và cả cái điếu cày tre đậm đà tâm hồn dân tộc. Và thật thú vị, và yêu thương biết bao khi chúng ta ngẫm ra rằng người dân Việt Nam lớn lên trong chiếc nôi với lời ru ầu ơ của bà, của mẹ… rồi đến khi “nhắm mắt xuôi tay” cũng trên chính chiếc giường tre thân thuộc.

Tre ngày thường nhũn nhặn, hiền hoà là thế nhưng trong chiến đấu tre lại trở nên bất khuất, kiên gan đến lạ lùng. Tre luôn sát cánh cùng nhân dân trong các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, không nề hà đạn bom, lửa đỏ. Và không ai ngờ được rằng, với những vũ khí thô sơ như chiếc gậy tầm vông, chống tre, cọc tre, nhân dân Việt Nam có thể chống lại sức mạnh của vũ khí tối tân, hiện đại của kẻ thù: súng đạn, đại bác, xe tăng… để chiến đấu và chiến thắng. Chính vì thế, không quá lời khi tặng cho tre danh hiệu “Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu”.

Một lần nữa, nhà văn lại thể hiện sâu sắc cái nhìn rất bao quát, có chiều dài và chiều sâu khi đưa ra nhận định về vị trí của tre trong cuộc sống hiện tại, tương lai của dân tộc: Đất nước dù có đổi thay, đời sống ngày càng hiện đại nhưng “nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam, chia bùi sẽ ngọt của những ngày mai tươi hát, còn mãi với chúng ta, vui hạnh phúc, hoà bình”.

c. Mở rộng kiến thức

Từ xa xưa, cây tre gắn bó với cuộc sống lao động vất vả của người nông dân Việt Nam. Chính vì thế nó đã đi vào ca dao, dân ca, trong lời hát ru và những tiếng hát tâm tình của người nông dân cất lên từ cuộc sống lao động một cách hết sức tự nhiên và bình dị.

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

(Ru con Nam Bộ)

Trong buổi đầu dựng nước và giữ nước, con người Việt Nam đã biết dùng tre làm vũ khí tấn công quân thù. Chúng ta vẫn còn nhớ hình ảnh Thánh Gióng nhổ những bụi tre bên đường phá tan giặc Ân xâm lược hay chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng chống lại quân Nam Hán cũng chính nhờ vào chiến thuật sử dụng bãi cọc tre.

Hình ảnh cây tre trở nên gần gũi, thân thuộc một phần nhờ vào nghệ thuật nhân hoá được tác giả sử dụng rất khéo léo, nhẹ nhàng, tinh tế. Bằng cách sử dụng những từ ngữ vốn để nói về con người: âu yếm, ăn ở đời đời, kiếp kiếp với người, tre là người nhà, tre với mình, sống có nhau, chết có nhau – đã làm cho hình ảnh cây tre trở nên sinh động và gắn bó hơn. Tre không còn là một thứ cây vô tri, vô giác nữa mà đã hoá thành người bạn tri kỉ, sống hiền hoà, gần gũi bên cạnh ta, che chở cho ta.

3. Câu hỏi 3 SGK trang 99
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Muốn trả lời cần đọc lại đoạn kết: “Tre già măng mọc… Tiếng sáo diều tre cao vút mãi”. Phải lưu ý rằng đoạn này đã chuyển sang một ý khác. Ở các đoạn trên tác giả đang liệt kê những chi tiết hết sức cụ thể về sự gắn bó giữa cây tre và con người trong cuộc sống sinh hoạt, lao động, chiến đấu trong quá khứ. Đến đoạn này là cái nhìn rất khái quát về vị trí của cây tre trong hiện tại và dự cảm về tương lai. Chúng ta không thấy các chi tiết cụ thể mà chỉ thấy nhận định khái quát. Để trả lời tốt câu hỏi này nên nhìn rộng ra bối cảnh của nước ta hiện tại và suy ngẫm về tương lai.

b. Gợi ý trả lời 

Trong phần cuối của bài văn tác giả đã đặt ra một vấn đề hết sức ý nghĩa: vai trò của cây tre khi đất nước ta bước vào công nghiệp hoá khi mà những sắt, thép, xi măng cốt sắt sẽ thay thế dân cho tre, nứa. Với luận điểm này một lần nữa nhà văn thể hiện cái nhìn sâu sắc và đầy trách nhiệm công dân của mình. Bởi vì rất nhiều người nghĩ rằng trong xã hội hiện nay khi cuộc sống ngày càng hiện đại, những bức tường gạch sẽ thay thế cho những hàng rào tre, những vật dụng trong gia đình hoàn toàn được làm bằng nhựa, i-nốc thì sẽ chẳng còn chỗ cho thứ đồ tre “quê mùa” ấy. Nhưng không, tre sẽ vẫn là bóng mát cho ta trên đường trường dấn bước, tre vẫn là cổng chào đón ta thắng lợi, và hơn hết, tre sẽ hoá thân vào đời sống nghệ thuật, âm nhạc của dân tộc Việt Nam. Những chiếc đu tre vẫn dướn lên bay bổng, sáo diều tre vẫn cao vút lên như tâm hồn của dân tộc mỗi lúc một thăng hoa. Cảm ơn Thép Mới đã thức tỉnh tâm hồn ta cái ý thức về giá trị truyền thống trong đời sống tâm linh của dân tộc. Ta mới chợt nhận ra rằng có một lúc nào đó, khi mải mê với những bộn bề của cuộc sống hiện tại, ta bỗng quên đi những giá trị bình dị và thiêng liêng trong hồn dân tộc. Nhưng một ngày nào đó ta trở lại miền quê thân yêu, ngồi dưới bóng tre râm mát, lặng đi trong bản nhạc đồng quê buổi trưa hè, ta sẽ cảm thấy tâm hồn mình trở nên thanh thoát và trong lành biết nhường nào.

4 Câu hỏi 4 SGK trang 99
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để trả lời câu này cần phải đọc lại một lần nữa toàn bộ văn bản. Khi đọc nên chú ý ghi chép lại những từ, câu, đoạn có nói về phẩm chất, vẻ đẹp của cây tre, từ đó có thể khái quát nên những phẩm chất chung thuỷ của cây tre qua ngòi bút miêu tả của tác giả.

b. Gợi ý trả lời

Điều đầu tiên dễ nhận thấy nhất là hình dáng bên ngoài của cây tre: mầm non mọc thẳng, dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn, tre lớn lên cứng cáp dẻo dai, vững chắc. Đó không chỉ là chi tiết rất thực miêu tả về hình dáng của cây tre mà ẩn chứa bên trong là vẻ đẹp của sự cứng cáp, ngay thẳng, bất khuất, không bao giờ chịu cúi đầu. Vẻ đẹp của tinh thần kiên gan ấy còn được thử thách qua lửa đạn của chiến tranh tàn phá. “Trúc dấu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Và vẻ đẹp ấy càng được khẳng định hơn nữa khi tác giả viết: “Tre thanh cao, giản dị, chí khí như người”. Lúc này không đơn giản là miêu tả bề ngoài nữa mà là phẩm chất, tâm hồn. Tre chính là biểu tượng cho nét thanh cao, giản dị, hiền hoà, song lại vô cùng bất khuất, hiên ngang của con người Việt Nam.

Tre còn gắn bó đời đời, kiếp kiếp với người, thuỷ chung trước sau như một. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hoà bình, hạnh phúc hay máu lửa, đau thương, tre vẫn luôn đồng hành cùng con người.

Vì sự gần gũi, gắn bó máu thịt giữa cây tre và con người, nhất là người nông dân Việt Nam, cây tre xứng đáng là biểu trưng cao quý của dân tộc Việt Nam.

c. Mở rộng kiến thức

Nguyễn Duy đã có một bài thơ rất hay viết về hình ảnh cây tre Việt Nam với những phẩm chất cao quý. Nên đọc và thuộc một số câu trong bài Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, SGK Ngữ văn lớp 6, tập hai trang 100 để có thể trích dẫn thêm cho bài viết phong phú hơn.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa