Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Lượm (Tố Hữu)

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Lượm (Tố Hữu) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 24 | Soạn bài Lượm (Tố Hữu) | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Lượm (Tố Hữu)
soạn văn 6 soạn bài Lượm (Tố Hữu)
Vài nét về tác giả và tác phẩm

Nhà thơ Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920. Quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điên, tỉnh Thừa Thiên. Chỗ ở hiện tại của gia đình ông: số nhà 76, phố Phan Đình Phùng, Hà Nội.

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, từ sáu, bảy tuổi Tố Hữu đã học và tập làm thơ. Ông giác ngộ cách mạng từ rất sớm, ngay trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939) và trở thành người lãnh đạo Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế. Năm 1938, Tố Hữu gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4-1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt và bị giam ở nhiều nhà lao các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Nhưng tháng 3 năm 1942, ông đã vượt ngục Đắc Lay trở về gây dựng lại cơ sở và hoạt động bí mật tại Thanh Hóa. Từ đó, Tố Hữu vừa tham gia cách mạng vừa sáng tác. Ông đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng: Uỷ viên Trung ương Đảng (1951), Uỷ viên Ban Bí thư Trung ương Đảng (1960-1980), Trưởng ban Thống nhất Trung ương (1974-1975), Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981), Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và giữ các chức vụ này cho tới năm 1986. Ngoài ra, Tố Hữu từng đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng ban Thống nhất Trung ương, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương.

Tố Hữu từ trần ngày 9-2-2002 tại bệnh viện 108 Hà Nội.

Tố Hữu đã từng nói: “Đối với tôi: Trăm năm duyên kiếp Đảng và Thơ”. Đời thơ Tố Hữu luôn song hành với con đường hoạt động cách mạng của ông. Những bài thơ đầu tiên của ông ra đời năm 1938. Năm 1946, ông đã cho ra đời tập thơ đầu tay Thơ với 3 phần: “Máu lửa”, “Xiềng xích” và “Giải phóng”. Sau này ông đã đổi tên tập thơ thành “Từ ấy”. Trong kháng chiến chống Pháp, thơ ông được tập hợp trong tập thơ Việt Bắc (1947-1954). Chính ở đây hình ảnh người dân thường yêu nước được khắc họa thành một biểu tượng mĩ học cho cả một giai đoạn thơ ca”. Từ sau 1954, khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tố Hữu đã thể hiện không khí phấn chấn của thời đại trong tập Gió lộng. Ngay sau đó là tập thở kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Ra trận (1962-1971) và Máu và hoa (1972-1977). Những năm cuối đời ông cho in 2 tập thơ: Một tiếng đàn (1992) và Ta nói với ta (1999).

Với Tố Hữu, lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, chúng ta có một kiểu nhà thơ hoàn toàn mới, nhà thơ của giai cấp vô sản, nhà thơ chiến sĩ, biết đem cả đời mình và thơ mình ra chiến đấu cho lí tưởng cao cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Thơ của ông là “thơ kêu gọi, thơ chiến đấu, thì hành động, là thơ mang tính lửa, đốt cháy trái tim con người vào ngọn lửa thân của đại nghĩa”, là “thơ của tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”…

Bài thơ Lượm được nhà thơ Tố Hữu sáng tác vào năm 1949 trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài thơ sáng tác theo thể thơ tự do, theo mạch của cảm xúc đang dâng trào trong lòng tác giả. Nhân vật trung tâm trong bài thơ là hình ảnh chú bé liên lạc – Lượm – một người con của Huế đã chiến đấu và hi sinh anh dũng trong kháng chiến.

1. Câu hỏi 1 SGK trang 76
a. Hướng dẫn tìm hiểu

 Trước hết, để tìm hiểu bố cục bài thơ, cần phải đọc lại toàn bộ văn bản, đọc kỹ cả những chú thích trong SGK để hiểu mạch thơ.

Sau đó, phải chú ý đến những lời xưng hô có sự thay đổi trong các đoạn thơ, cũng có thể căn cứ vào các dấu hiệu ngữ pháp (cách ngắt thành từng đoạn) hay dấu hiệu thời gian, không gian, để phân chia bố cục tác phẩm cho phù hợp, chính xác. Tuỳ vào từng cách phân chia, chúng ta có thể có nhiều bố cục cho một tác phẩm, ở đây cần phải chú ý đến yêu cầu của câu hỏi là: tìm bố cục theo trình tự lời kể của người kể.

b. Gợi ý trả lời 

Đọc cả bài thơ, chúng ta thấy hình ảnh của Lượm hiện lên hết sức sinh động qua lời kể của “người chú”. Có thể nói Tố Hữu đã khéo léo hóa thân vào nhân vật kể chuyện để nói lên tình cảm yêu mến, trận trọng của mình với chú bé liên lạc dũng cảm. Cả bài thơ là câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ của hai chú cháu ở Thành phố Huế, trong bối cảnh những ngày đổ máu”, về sự chiến đấu và hi sinh anh dũng của Lượm.

Theo lời kể ấy, chúng ta có thể chia bài thơ ra thành hai đoạn:

Đoạn 1: Từ đầu đến “Cháu đi xa dần”. Đoạn này gồm năm khổ thơ kể về cuộc gặp gỡ hết sức “tình cờ” của hai chú cháu ở Huế giữa những ngày kháng chiến.

Đoạn 2: Từ “Cháu đi đường cháu… Hồn bay giữa đường”. Đoạn này gồm bảy khổ thơ kể về sự chiến đấu và hi sinh anh dũng của chú bé liên lạc. Những chi tiết cụ thể, sinh động về chuyển liên lạc cuối cùng

đủ cho người đọc hình dung sự hiểm nguy, gian khổ trong nhiệm vụ | liên lạc cũng như phẩm chất can đảm, anh dũng của Lượm.

Đoạn 3: Từ “Lượm ơi, còn không?” đến hết: Đoạn thơ nói lên sự bất tử của Lượm. Lượm đã ngã xuống giữa cuộc chiến đấu nhưng em đã hóa thân vào hồn quê hương, dân tộc.

2, Câu hỏi 2 SGK trang 76
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Yêu cầu đọc kỹ lại bốn khổ thơ từ “Chú bé loắt choắt… Cháu đi xa dân” và chú ý đến những từ chỉ hành động cử chỉ lời nói của chú bé. Khi đọc cần thống kê xem chi tiết nào được tác giả chú ý miêu tả nhất (trang phục, cử chỉ hay lời nói, điệu bộ…). Trong đoạn thơ này tác giả sử dụng một số biện pháp nghệ thuật láy, so sánh, gieo vần… vì thế cần ghi ra những từ đáng chú ý có sử dụng các biện pháp đó.

b. Gợi ý trả lời

Bằng bốn khổ thơ, hình ảnh chú bé Lượm đã hiện lên hết sức sinh động, chân thật, gần gũi. | Về trang phục: chỉ đơn giản là “cái xắc xinh xinh”, “ba lô đội lệch” cũng đủ cho người đọc hình dung trước mắt một chú bé liên lạc thực sự, một chiến sĩ nhỏ tuổi thời kì kháng chiến chống Pháp. Những vật dụng tuy nhỏ nhắn, đơn giản, bình thường nhưng nó gắn bó với em suốt chặng đường chiến đấu, giúp em làm tròn nhiệm vụ.

Nhưng chi tiết được tác giả chú ý miêu tả, tập trung thể hiện tình cảm yêu mến thân thương của người kể chính là chi tiết về cử chỉ, điệu bộ và lời nói của Lượm. Với dáng vẻ chỉ “loắt choắt”, nhưng đôi chân luôn “thoăn thoắt”, miệng luôn huýt sáo mang” và đáng yêu nhất là nụ cười “híp mí”. Tất cả đều toát lên vẻ rất nhanh nhẹn, hồn nhiên, nhí nhảnh của một chú bé. Đó là những cử chỉ, dáng vẻ vui tươi hoàn toàn phù hợp với một chú bé còn ở tuổi thiếu niên như em. Có lẽ, nếu như không để ý hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, người đọc sẽ nghĩ đến hình ảnh một chú bé trong khung cảnh đất nước thanh bình một làng quê yên ả. Nụ cười híp mí, miệng luôn huýt sáo vang toát lên vẻ vừa hồn nhiên, ngây thơ, vừa lạc quan, yêu đời. Với tinh thần lạc quan ấy em đã xem công việc liên lạc gian nan, nguy hiểm trở nên rất đời thường, nhẹ nhàng, vui vẻ:

Cháu đi liên lạc

Vui lắm chú à

Ở đồn Mang Cá

Thích hơn ở nhà!

Đoạn thơ khép lại với câu nói rất tinh nghịch: “Thôi chào đồng chí”. Lúc này em như người lớn hơn” với hai từ đồng chí rất nghiêm trang, đứng đắn. Câu thơ vừa toát lên vẻ hồn nhiên dí dỏm, song cũng bộc lộ niềm tự hào của em về công việc liên lạc của mình, một niềm tự hào rất hồn nhiên, đáng yêu khiến ta rưng rưng cảm động.

Trong đoạn thơ này, Tố Hữu khéo léo sử dụng những biện pháp nghệ thuật từ láy (loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh), so sánh (Ở đôn Mang Cá. Thích hơn ở nhà!… Má đỏ bộ quân); nghệ thuật gieo vần (vang.. vàng…; … cá… nhà…). Tất cả đều rất gợi cảm, gợi hình cùng với thể thơ năm chữ tạo nên nhịp điệu thơ nhanh, âm hưởng vui tươi, nhí nhảnh rất phù hợp với chú bé Lượm. Những hình ảnh so sánh hết sức gần gũi, quen thuộc “như con chim chích,… má đỏ bồ quân” khiến cho hình ảnh của Lượm trở nên rất sinh động, đáng yêu. Và bao trùm lên tất cả là cái tình của nhà thơ, cái nhìn âu yếm, trìu mến, thân thương với chú bé. Có lẽ phải có một tình cảm gần gũi và yêu thương Lượn đến nhường nào, tác giả mới có thể miêu tả hình ảnh chú bé đẹp, đáng yêu đến thế.

3. Câu hỏi 3 trong SGK trang 76
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc lại kỹ đoạn thơ từ: “Cháu đi đường cháu…” đến “Hồn bay giữa đồng…”. Đoạn thơ kể về sự chiến đấu gan dạ, hi sinh anh dũng của chú bé liên lạc. Khi đọc đoạn thơ này phải đặc biệt chú ý đến nhịp của các khổ thơ và qua đó dễ dàng nhận thấy dòng cảm xúc của tác giả. Đây cũng là nét nghệ thuật trọng tâm của đoạn thơ và cả bài thơ.

b. Gợi ý trả lời

Ấn tượng của cuộc gặp gỡ vẫn còn giữ nguyên trong lòng tác giả, vui tươi, ấm áp, (cháu đi đường cháu, chú lên đường ra) thì bỗng nhiên có tin Lượm hi sinh. Lời thơ trải ra như lời tâm sự của tác giả về chuyến đi liên lạc cuối cùng của Lượm. “Một hôm nào đó. Như bao hôm nào”. Chỉ bằng một, hai câu thơ cũng cho chúng ta thấy công việc thường ngày mà Lượm phải đảm nhận. Như một chiến sĩ thực thụ, em băng qua chiến trường đầy nguy hiểm, gian khổ, thậm chí cả hi sinh, chết chóc (đạn bay vèo vèo) để hoàn thành nhiệm vụ, góp phần công sức của mình cho cách mạng. Nhà thơ rất khéo léo khi trong một khổ thể sử dụng ba tính từ (vụt, vèo vèo, thượng khẩn) để tạo nên không khí khẩn trương cũng như hiểm nguy của cuộc chiến đấu. Song qua đó lại toát lên dáng vẻ nhanh nhẹn, quả cảm của chú bé liên lạc (sợ chi hiểm nghèo). Ở đoạn thơ trên, Lượm hồn nhiên, vô tư, trẻ con là thế, nhưng đến đoạn thơ này em đã trở thành một chiến sĩ thực sự, chiến đấu vô cùng anh dũng, quả cảm, gan dạ. Đoạn thơ đang trải ra mênh mang với hình ảnh và cảnh đồng quê vắng vẻ, lúa trổ đòng đòng, thì “bỗng” chững lại, nghẹn ngào:

Bỗng loè chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

Quả thật, người chú không ngờ rằng cuộc gặp gỡ và chia tay giữa hai chú cháu ở Huế lại là cuộc gặp gỡ lần cuối cùng, rồi chia tay mãi mãi. Lượm đã hi sinh anh dũng ngay trong cuộc chiến đấu. Theo lôgic thì người ta sẽ bắt gặp những câu thơ ảm đạm, đau buồn, nhưng không, vẫn là vẻ đẹp ấy hồn nhiên đáng yêu ngay cả trong sự hi sinh:

Cháu nằm trên lúa

Tay nắm chặt bông…

Một khung cảnh quê hương giữa chiến tranh, bom đạn, máu lửa mà đẹp đẽ, thân thương biết bao. Cánh đồng lúa như lòng nôi, dang rộng, ấp ôm lấy hình ảnh một chiến sĩ nhỏ. Lượm đã ngã xuống giữa mùa lúa trổ đòng đòng, hương lúa, hồn của quê hương như lan tỏa quấn quyện lấy hồn em. Em hi sinh mà tay vẫn nắm chặt bông như lời thề gắn bó của một chiến sĩ đã ngã xuống vì quê hương, đất nước. Hình ảnh của Lượm trong khổ thơ này vừa thiêng liêng vừa gần gũi, giản dị, vừa đau xót vừa thấy tự hào. Không có lòng yêu mến, xót thương, cảm phục sâu sắc đối với chú bé liên lạc, nhà thơ không thể miêu tả một cái chết đẹp đẽ và lãng mạn đến thế. Trong đoạn thơ có một khổ được cấu tạo đặc biệt.

Ra thế

Lượm ơi!… 

Các khổ thơ khác trong bài thường được viết thành bốn câu, mỗi câu bốn chữ. Nhưng đến đây một câu thơ bị bẻ làm đội và đứng một mình thành một khổ. Câu thơ tạo cho người đọc có cảm giác đó như một tiếng nấc, một sự sửng sốt đến nghẹn ngào. Câu thơ là tiếng gọi đến nghẹn lòng. Người chú như không tin vào sự thật mà mình nghe thấy: Lượm đã hi sinh. Đây là một sáng tạo nghệ thuật hết sức độc đáo của tác giả, nhưng nó cũng chính là dòng cảm xúc của nhà thơ trải lòng mình ra kế cho người đọc câu chuyện về Lượm – một cậu bé anh hùng.

c. Mở rộng kiến thức

Sự hi sinh của Lượm được Tố Hữu miêu tả đẹp đẽ và lãng mạn. Đó là cái chết của những thiên thần nhỏ bé như cái chết của chú bé Gavơ-rốt trên chiến lũy Pari trong tác phẩm Những người khốn khổ của Vícto Huygô. Và Lượm, cũng như Ga-vơ-rốt, những thiên thần bé nhỏ ấy đã bay đi, để lại bao tiếc thương cho nhiều thế hệ độc giả.

4. Câu hỏi 4 SGK trang 76.
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để trả lời được câu hỏi này chúng ta phải đọc lại toàn bài một lần nữa và chọn lọc ra những từ mà người kể sử dụng để xưng hô với Lượm. Chú ý sự thay đổi đó diễn ra như thế nào? Ở thời điểm nào? Từ đó có thể thấy được thái độ, tình cảm mà người kể dành cho nhân vật.

b. Gợi ý trả lời

Ngay từ đầu bài thơ, hình ảnh Lượm hiện lên qua lời kể rất trìu mến, thân thương của người “chú”:

Tình cờ chú, cháu

Gặp nhau Hàng Bè

Đó là mối quan hệ ruột thịt, thứ bậc trong gia đình. Trong thơ Tố Hữu, không ít lần ông sử dụng những cách xưng hô, mối quan hệ ruột thịt dành cho những người dù chỉ là quen biết nhưng rất nặng nghĩa tình: mẹ Tơm, mẹ Suốt, hay tự nhận mình là “con của bạn nhà, là em của bạn kiếp phôi pha”.

Nhưng đến khi thực sự chứng kiến tinh thần quả cảm, gan dạ của em trong chiến đấu và cái chết anh dũng của Lượm, người chú đã không thể kìm nén được tình cảm trân trọng của mình và bật lên thành hai tiếng “đồng chí”. Hai tiếng ấy tuy giản dị nhưng vô cùng thiêng liêng đối với những chiến sĩ cùng chung lý tưởng, cùng đồng cam, cộng khổ bên nhau. Với cách xưng hô này, người kể đã nâng hình ảnh của một chú bé hồn nhiên, ngây thơ trở thành một anh hùng. Em đã ngã xuống khi tuổi đời còn quá nhỏ nhưng em đã trở thành một chiến sĩ, biết chiến đấu và hi sinh cho quê hương mình. Chính vì vậy, sự thay đổi cách xưng hô của người kể đối với Lượm, không đơn giản chỉ là mối quan hệ mà chính là dòng cảm xúc. Và không chỉ dừng lại sự yêu thương, trìu mến đối với một chú bé hồn nhiên trong sáng mà cao hơn chính là sự cảm phục, trân trọng với một chiến sĩ quả cảm, gan dạ, một người “đồng chí”.

5. Câu hỏi 5 SGK trang 76
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để trả lời câu hỏi này cần đọc lại tác phẩm từ đoạn “Một hôm nào đó…” đến hết để thấy được vị trí của câu thơ này trong bố cục của cả bài thơ và trong mạch cảm xúc của tác giả. Khi đọc chú ý suy nghĩ theo hướng: tại sao lại đặt câu thơ này sang một đoạn khác và sau đó  lại là hình ảnh vui tươi, nhí nhảnh của Lượm ở đầu bài thơ.

Về hình thức, câu thơ là một câu hỏi. Nhưng nó là câu hỏi tu từ. Các em làm quen với kiến thức về câu hỏi tu từ để hiểu ý nghĩa biểu cảm của câu thơ. Câu hỏi tu từ là một dạng câu hỏi (có các từ để hỏi, có dấu chấm hỏi đặt ở cuối câu) nhưng vai trò của nó không phải để hỏi mà để khẳng định. Mục đích của câu hỏi tu từ không phải là mong muốn người khác trả lời, mà nhiều khi người hỏi không cần câu trả lời hay tự trả lời cho mình. Những câu hỏi như thế thường có ý nghĩa biểu cảm rất cao, đặc biệt trong việc miêu tả các tình huống diễn ra đột ngột, khiến cho nhân vật cảm thấy thảng thốt, bất ngờ.

b. Gợi ý trả lời

Câu thơ là dụng ý nghệ thuật tinh tế của tác giả. Nó chỉ đơn giản là một câu hỏi, một lời gọi thiết tha và ngắt riêng thành một khổ.

Ở đoạn trên người chú đã chứng kiến sự hi sinh của Lượm. Nhưng đến đây vì sao người chú lại đặt một câu hỏi “Lượm ơi còn không?”, mới nghe có vẻ vô lí, thiếu lôgíc. Nhưng không… Đó chính là sự thảng thốt, nghẹn ngào đến tột độ, đến mức không còn tin vào sự thật mà chính mình chứng kiến. Hỏi để rồi khẳng định, tự trả lời. Và nhà thơ đã tự trả lời cho mình bằng hai khổ thơ cuối bài. Về hình thức nó là sự lấy lại nguyên vẹn hai khổ thơ ở đoạn đầu, nhưng ý nghĩa không còn là sự miêu tả nữa. Tác giả tự hỏi Lượm ơi còn không? và câu trả lời là Lượm vẫn còn mãi mãi với quê hương, với non sông. Vẫn còn nguyên đó hình ảnh chú bé “loắt choắt”, vẫn công việc liên lạc thường ngày. Tâm hồn tác giả như lắng dịu lại, sau tiếng sét bất ngờ tin Lượm hi sinh. Và bài thơ hết, nhưng ý thơ chưa kết thúc, như vẫn còn vang mãi trong lòng người đọc. Lượm vẫn còn sống mãi trong lòng chúng ta như bài ca bất diệt về một tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng đã hiến dâng đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc. Tài liệu tham khảo ..

Dưới đây là bài viết của Nguyễn Văn Hạnh trích trong cuốn Thơ Tố Hữu – Tiếng nói đồng ý – đồng tình – đồng chí, các em có thể tham khảo để bổ sung cho bài phân tích của mình:

“Lượm, không chỉ là một em bé mà là một chú bộ đội nhỏ, em là hình ảnh đầy sức sống của cách mạng. Màu sắc, âm thanh cứ quấn quýt, nhảy nhót, bích thích sự tưởng tượng:

Chú bé loắt choắt

Cái sắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh…

Ở em bé, cách mạng đã hoà làm một với sự sống trong cái dạng hôn nhiên nhất của nó, Em bị chết một cách đột ngột. Nhà thơ muốn lướt nhanh qua sự đau xót. Anh miêu tả em bé chết như một thiên thần yên nghỉ:

Cháu nằm trên lúa

Tay nắm chặt bông

Lúa thơm mùi sữa

Hồn bay giữa đồng

Hình như thế vẫn còn có gì quá thật. Cuối bài thơ anh trở lại hình ảnh bay nhảy ríu rít “Chú bé loắt choắt…”

Nghệ thuật miêu tả đặc sắc trong bài thơ kết hợp với nghệ thuật kể chuyện, đối thoại và biểu hiện rất khéo làm cho bài thơ vừa đậm nét tạo hình vừa giàu nhạc tính, có sức ngân vang đặc biệt”.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa