Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Hoán dụ

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Hoán dụ – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 24 | Soạn bài Hoán dụ | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Hoán dụ
soạn văn 6 soạn bài Hoán dụ

Mục đích của bài học, giúp các em nắm được:

– Khái niệm hoán dụ; 

– Các kiểu hoán dụ.

– Tác dụng của hoán dụ;

A. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

I. Hoán dụ là gì?

Hoán dụ là:

– Gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó;

– Nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Trong giao tiếp hàng ngày, hoán dụ là biện pháp được sử dụng thường xuyên và phổ biến nhất. Nguyên tắc của hoán dụ là lâm thời chuyển đổi tên gọi, trong đó “sự vật được nói tới” phải không xuất hiện trên văn bản.

Ví dụ:

Mười lăm năm ấy, ai quên

Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa

(Tố Hữu)

Trong ví dụ trên, quê hương cách mạng là một hoán dụ. Ở đây, được dùng để gọi khu căn cứ địa Việt Bắc – nơi Đảng và Bác lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp của dân tộc.

1. Áo nấu liền với áo xanh

Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.

Các từ ngữ: áo nâu, áo xanh, nông thôn, thành thị trong câu thơ trên chỉ:

+ Áo nâu, nông thôn – chỉ người nông dân

+ Áo xanh, thị thành –  chỉ người công nhân, nhân dân ở thành phố.

2. Giữa áo nâu, áo xanh, thị thành, nông thôn với sự vật được chỉ có mối quan hệ:

+ Nông thôn: địa bàn bàn mà người nông dân tập trung để sinh sống, công việc chủ yếu của người nông dân là làm nghề nông.

Áo nâu: màu áo đại diện của người nông dân.

Thành thị: địa bàn mà người công nhân tập trung sinh sống và hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp.

Ao xanh: màu áo đại diện của giai cấp công nhận.

3. Tác dụng của cách diễn đạt trên: làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, làm cho câu thơ mềm mại hơn.

II. Các kiểu hoán dụ

Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:

– Lấy một bộ phận để gọi toàn thể.

Ví dụ:

Mấy cánh bướm rập rờn bay trước gió

Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

(Anh Thơ)

Ở ví dụ này, cánh bướm (bộ phận) được dùng để gọi thay cho bướm (toàn thể).

Đầu xanh đã tội tình gì

Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.

(Nguyễn Du)

Ở ví dụ này, đầu xanh (bộ phận của cơ thể được dùng để chỉ những người ở độ tuổi trẻ trung, mới bước vào đời (toàn thể). Còn má hồng (bộ phận của cơ thể) biểu thị người đàn bà sống kiếp lầu xanh (toàn thể).

– Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng

 Ví dụ:

Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người.

(Tố Hữu)

Ở ví dụ này, Việt Bắc (vật chứa đựng) được dùng để gọi thay cho người Việt Bắc, nhân dân Việt Bắc (vật bị chứa đựng).

– Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật

Ví dụ:

Những tháng năm nhở vành mũ tai bèo

Đời chinh chiến một thời trong trẻo quá.

(Thụy Văn)

Ở ví dụ này, vành mũ tai bèo (dấu hiệu của cuộc kháng chiến): được dùng để nói về thời kì kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta (cuộc kháng chiến).

– Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

Ví dụ:

Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ

Bắp chân, đầu gối vẫn sẵn gân.

(Tố Hữu)

Ở ví dụ này, bắp chân, đầu gối vẫn săn gân (cái cụ thể: được dùng để gọi thay cho tinh thần kháng chiến vững vàng, dẻo dai (cái trừu tượng).

1. Các từ ngữ in đậm trong các ví dụ dẫn ở SGK trang 83.

Bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

 (Hoàng Trung Thông)

Bàn tay ta (bộ phận) được dùng để gọi thay cho con người (toàn thể).

Một cây làm chẳng lên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

(Ca dao) Trong câu ca dao trên, một và ba (cái cụ thể được dùng để gọi thay cho số ít và số nhiều (cái trừu tượng).

Ngày Huế đổ máu Chú Hà Nội về

Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè.

(Tố Hữu)

Trong khổ thơ trên, đổ máu (dấu hiệu của cuộc kháng chiến) được dùng để chỉ cuộc kháng chiến.

– Giữa bàn tay với sự vật mà nó biểu thị ở ví dụ a có quan hệ bộ phận (bàn tay) với cái toàn thể con người).

– Giữa một và ba với số lượng mà nó biểu thị ở ví dụ b có quan hệ giữa cái cụ thể (một, ba) với cái trừu tượng (số ít, số nhiều).

– Giữa đổ máu với hiện tượng mà nó biểu thị ở ví dụ c có quan hệ giữa dấu hiệu của sự vật (đổ máu) với sự vật (hiện tượng chiến tranh).

Từ những ví dụ đã phân tích ở phần I và phần II, một số kiểu quan hệ thường được sử dụng để tạo ra phép hoán dụ:

– Quan hệ bộ phận (B) với toàn thể (A);

– Quan hệ vật chứa đựng (B) và vật bị chứa đựng (A);

– Quan hệ giữa dấu hiệu của sự vật (B) và sự vật (A);

– Quan hệ giữa cái cụ thể (B) và cái trừu tượng (A).

B. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

  1. 1. Bài tập này nêu hại yêu cầu:
  2. – Chỉ ra phép hoán dụ trong những dẫn chứng ở SGK trang 84.
  3. – Xác định mối quan hệ giữa các sự vật trong mỗi phép hoán dụ.

a. Hai câu văn của Hồ Chí Minh, sử dụng phép hoán dụ làng xóm ta. để chỉ những người nông dân.

Đây là kiểu hoán dụ lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng:

+ Gọi tên vật chứa đựng làng xóm tạ. + Thay cho vật bị chứa đựng những người dân sống trong làng xóm.

b. Hai cầu của Hồ Chí Minh, sử dụng hai hoán dụ: mười năm, trăm năm và trông người:

Phép hoán dụ: mười năm, trăm năm để chỉ con số không xác định (nhiều năm). Đây là kiểu hoán dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

+ Gọi tên cái cụ thể: mười năm, trăm năm.

+ Thay cho cái trừu tượng con số không xác định (nhiều năm).

Phép hoán dụ trồng người để chỉ việc nuôi dưỡng, đào tạo con người trở thành người có ích cho xã hội. Đây là kiểu hoán dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

+ Gọi tên cái cụ thể: trồng người.

+ Thay cho cái trừu tượng: việc nuôi dưỡng, đào tạo con người trở thành người có ích cho xã hội.

c. Câu thơ của Tố Hữu sử dụng phép hoán dụ là áo chàm. Tác giả đã dùng hình ảnh áo chàm để chỉ đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc. Đây là kiểu hoán dụ lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật:

+ Gọi tên dấu hiệu của sự vật: áo chàm.

+ Thay cho sự vật: đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc.

Câu thơ của Tố Hữu sử dụng phép hoán dụ Trái Đất. Tác giả đã dùng hình ảnh Trái Đất để chỉ toàn nhân loại. Đây là kiểu hoán dụ lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng:

+ Gọi tên vật chứa đựng: Trái Đất.

+ Thay cho vật bị chứa đựng: nhân loại, 

2. Bài tập này yêu cầu các em phân biệt sự giống và khác nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ và cho ví dụ.

Trước hết, các em phải hiểu ẩn dụ và hoán dụ:

. Ấn dụ: gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

– Hoán dụ: gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Ấn ạ và hoán dụ có điểm giống và khác nhau:

. Giong nhau: đều là sự chuyển đổi cách gọi tên: gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác tức là gọi B để thấy A, gọi B mà hiểu là nói đến A.

Ví dụ: Ấn dụ: Có được trái cây thơm ta biết quý cả mùa lành.

(Chế Lan Viên)

Ấn dụ tu từ trái (B) là thành quả của một giai đoạn vừa mới trải qua (A). Từ kết quả của thế giới thực vật, đi đến kết quả trong cuộc sống, nhà thơ đứng vững trên một cơ sở chung gắn bó hai đối tượng, đó là quá trình phát sinh phát triển phức tạp, gian khổ, là cuộc đấu tranh để sinh tồn. Hoán dụ:

Mồ hôi mà đổ xuống đồng

Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương 

(Ca dao) 

Hoán dụ tu từ mô hội (B) ở đây biểu thị lao động căng thẳng vất vả (A).

– Khác nhau:

+ Ấn dụ là cách chuyển đổi tên gọi dựa trên sự tương đồng, giống nhau nào đó giữa A và B, nhưng sự tương đồng đó không phải là hiển nhiên mà phải có sự tìm tòi, phát hiện mới thấy.

Ví dụ: Vạt áo của triệu nhà nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà đời rơi vãi.

(Chế Lan Viên)

Ấn dụ tu từ bạc vàng (B) ở đây được hiểu là sự quý giá trong cuộc sống (A).

+ Hoán dụ là sự chuyển đổi tên gọi không phải dựa trên sự tương đồng giữa A và B mà dựa trên mối quan hệ gần gũi, hiển nhiên, dễ thấy giữa A và B.

Ví dụ: Nhận của quá khứ những con để vỡ, những nạn đói, ta đã làm nên các mùa màng năm tân, bảy tấn.

(Chế Lan Viên)

Hoán dụ tu từ để vỡ, nạn đói (cụ thể) (B) biểu thị sự bị tàn phá, kiệt quệ (trừu tượng) (A). Còn mùa màng năm tấn, bảy tấn (cụ thể) (B) biểu thị cuộc sống mới ấm no (trừu tượng) (A).

Các em có thể thấy sự khác biệt giữa ẩn dụ và hoán dụ qua bảng so sánh sau:

Ẩn dụ Hoán dụ
Có nét tương đồng về các mặt:

– Hình thức;

– Cách thức thực hiện;

– Phẩm chất;

– Cảm giác.

Có quan hệ mật thiết về các mặt:

– Bộ phận – toàn thể;

– Vật chứa đựng – vật bị chứa đựng;

– Dấu hiệu của sự vật – sự vật;

– Cụ thể – trừu tượng.

 

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa