Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Ẩn dụ

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Ẩn dụ – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 23 | Soạn bài Ẩn dụ | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Ẩn dụ
soạn văn 6 soạn bài Ẩn dụ

Mục đích của bài học, giúp các em nắm được:

– Khái niệm ẩn dụ; 

– Các kiểu ẩn dụ;

– Tác dụng của ẩn dụ;

– Bước đầu cảm nhận được cái hay của ẩn dụ dùng trong các văn bản nghệ thuật.

A. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

I. Ẩn dụ là gì?

Ẩn dụ là:

– Gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó;

– Nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

Như vậy, nếu giữa A và B có sự tương đồng nào đó thì người ta có thể dùng tên gọi B thay cho tên gọi A.

Ví dụ 1:

+ Cổ chai: Thay cho tên gọi phần phía trên của chai có vị trí tương tự như vị trí của cổ trên thân thể người.

+ Chân núi: Thay cho tên gọi phần tiếp giáp đất của núi giống như chân người.

Các cách gọi cổ chai, chân núi… là ẩn dụ. Đây là những ẩn dụ từ vựng hay ẩn dụ định danh. Những ẩn dụ này không có sức gợi tả, không phải là ẩn dụ tu từ.

Ví du 2:

“Mặt trời của bắp thì nằm trên đôi

Mặt trời của mẹ, con nằm trên lưng”

(Nguyễn Khoa Điềm)

Đây là ẩn dụ tu từ vì nó có sức gợi tả:

– Mặt trời trong câu thứ nhất được gọi tên trực tiếp nên không phải là một ẩn dụ. 

 “Mặt trời” trong câu thứ hai: chỉ người con mà mẹ địu trên lưng là một ẩn dụ tu từ. Ở đây, mặt trời được dùng thay cho tên gọi con mà người đọc vẫn hiểu vì giữa mặt trời và con có nét tương đồng: mặt trời đem lại niềm vui, ánh sáng cho ngô lúa còn con đem lại hơi ấm, niềm vui cho người mẹ.

1. Trong khổ thơ được dẫn ở SGK trang 68, cụm từ người cha được dùng để chỉ Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Có thể ví được như vậy vì Bác Hồ là vị cha già của hàng triệu triệu người con đất Việt, đã có công trong việc soi đường, chỉ lối, đưa cách mạng Việt Nam đến bến bờ thắng lợi.

2. Cách nói dẫn ở SGK trang 68 giống và khác với phép so sánh là:

– Giống: trong Người Cha mái tóc bạc cũng dùng phép so sánh nhưng là so sánh ngầm (so sánh không có từ so sánh, chỉ còn lại cụm từ Người cha: vừa là sự vật được so sánh (Bác Hồ) vừa là sự vật dùng để so sánh (Người Cha).

– Khác: Việc dùng tên gọi khác (Người Cha) có nét tương đồng để gọi Bác Hồ.

II. Các kiểu ẩn dụ

Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp là:

– Ẩn dụ hình thức: Là sự chuyển đổi tên gọi giữa những sự vật, hiện tượng có điểm nào đó tương đồng về hình thức.

Ví dụ:

Ông trời

Mặc áo giáp đen

Ra trận

Muôn ngàn cây mía

Múa gươm

Đàn kiến

Hành quân

 Đầy đường

(Trần Đăng Khoa)

Trong ví dụ trên có hai ẩn dụ hình thức:

+ Áo giáp đen chỉ mây đen (giữa mây đen và áo giáp đen có sự tương đồng: đều có màu đen).

+ Gươm chỉ lá mía (lá mía có hình thức bên ngoài giống như những thanh gươm).

– Ân dụ cách thức: Là sự chuyển đổi tên gọi về cách thức thực hiện hành động khi giữa chúng có những nét tương đồng nào đó với nhau.

Ví dụ: Cứ như thế, hoa học trò thả những cách sen xuống cỏ, đếm từng giây phút xa bạn học sinh! Hoa phượng rơi, rơi… Hoa phượng mưa (…) (Xuân Diệu).

Trong ví dụ trên có hai ẩn dụ:

+ Hoa học trò là ẩn dụ quen thuộc nên mang tính tượng trưng. Hoa học trò chỉ hoa phượng, một loài hoa quen thuộc, gần gũi với tuổi học trò

+ Thẻ những cánh sen và hoa phượng mưa là ẩn dụ cách thức:

+(+) Gọi (hoa phượng) thả những cánh sen thay cho cách gọi (hoa phượng) rơi những cánh hoa.

+ (+) Gọi (hoa phượng) mưa thay cho cách gọi (hoa phượng rơi nhiều.

– Ẩn dụ phẩm chất: Là sự chuyển đổi tên gọi giữa những sự vật, hiện tượng… có nét tương đồng với nhau ở một vài điểm nào đó về tính chất, phẩm chất.

Ví dụ:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

 (Nguyễn Công Trứ)

Ở ví dụ trên, cây thông là một ẩn dụ phẩm chất, dùng để chỉ người quân tử có vẻ đẹp cao quý.

– Ân dụ chuyển đổi cảm giác: Là sự chuyển đổi tên gọi giữa những sự vật, hiện tượng.. có nét tương đồng với nhau ở một vài điểm nào đó về cảm giác.

Loại ẩn dụ này thường dùng kết hợp với các từ ngữ chỉ cảm giác loại này với cảm giác loại khác.

Ví dụ: Câu chuyện nghe nhạt nhẽo làm sao.

Ở ví dụ trên, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, nghe nhạt nhẽo là sự kết hợp từ ngữ cảm giác của thính giác (nghe) với cảm giác của vị giác (nhạt nhẽo).

Các từ in đậm thắp, lửa hồng trong câu thơ dẫn ở SGK trang 68 được dùng để chỉ hiện tượng ra (nở) hoa của hoa dâm bụt. Có thể ví được như vậy vì:

– Thắp là một ẩn dụ cách thức: Gọi (hàng râm bụt) thắp lên lửa hông thay cho cách gọi (hàng râm bụt) nở những bông hoa.

– Lửa hồng là một ẩn dụ hình thức. Lửa hồng và hoa dâm bụt có nét tương đồng về màu sắc, chúng đều có màu đỏ.

Cách dùng từ trong thấy nắng giòn tan có đặc biệt hơn so với cách nói thông thường: Đây là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác tức là sự chuyển đổi tên gọi giữa những sự vật, hiện tượng… có nét tương đồng với nhau một vài điểm nào đó về cảm giác có sự kết hợp từ ngữ chỉ cảm giác của thị giác (thấy) với cảm giác của thính giác giòn tan).

Từ những ví dụ đã phân tích ở các phần I và II, có một số kiểu tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng thường được sử dụng để tạo phép ẩn dụ:

– Tương đồng về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng;

– Tương đồng về cách thức thực hiện giữa các sự vật, hiện tượng;

– Tương đồng ở một vài điểm nào đó về tính chất, phẩm chất giữa các sự vật và hiện tượng;

– Tương đồng ở một vài điểm nào đó về cảm giác giữa các sự vật và hiện tượng.

III. Tác dụng của ẩn dụ

– Giúp cho câu văn sinh động.

– Giúp người đọc, người nghe có những liên tưởng mới lạ.

– Là phương tiện để thể hiện được sự sáng tạo độc đáo cũng như cách cảm, cách nghĩ riêng của người nói, người viết.

B. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Bài tập này nêu hai yêu cầu:

– So sánh đặc điểm của ba cách diễn đạt dẫn trong SGK trang 69.

– Tác dụng của ba cách diễn đạt đó.

Để so sánh được đặc điểm và tác dụng của ba cách diễn đạt, các em có thể tiến hành các bước sau:

– Đọc và hiểu nội dung của từng cách diễn đạt.

– Dựa vào những dấu hiệu nội dung và hình thức của từng cách diễn đạt để chỉ ra các phép tu từ đã được sử dụng. – Phân tích tác dụng của phép tu từ đối với từng cách diễn đạt. Trên cơ sở đó, các em có thể phân tích được như sau:

Cách 1: Diễn đạt bình thường, không sử dụng phép tu từ nào

Bác Hồ mái tóc bạc

Đốt lửa cho anh nằm

Cách 2: Sử dụng phép tu từ so sánh Bác Hồ như Người Cha.

Vế A Phương diện so sánh Từ so sánh Vế B
Bác Hồ như Người Cha

 

 Phép so sánh trong cách diễn đạt này đã giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, cụ thể hơn tâm tư, tình cảm của người viết dành cho Bác Hồ – vị cha già của dân tộc.

Cách 3: Sử dụng phép tu từ ẩn dụ Người Cha mái tóc bạc.

Đây là ẩn dụ phẩm chất, Bác như người cha yêu thương, gần gũi với các con nhân dân), chăm lo cho các con đến nỗi quên cả bản thân. Đó là những đức tính của người cha đối với con, của Bác Hồ đối với nhân dân ta.

2. Bài tập này có hai yêu cầu:

– Tìm ẩn dụ tu từ trong các ví dụ dẫn ở SGK trang 70.

– Nêu lên nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh ngâm trong ẩn dụ đó.

a. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

(Tục ngữ)

– Ví dụ này có các phép ẩn dụ: ăn quả và trồng cây

– Nét tương đồng giữa ăn quả với trồng cây được so sánh ngầm trong ẩn dụ là:

+ Ăn quả

– người hưởng thụ cái lợi, cái thành quả.

+ Trồng cây

– người gây dựng, người tạo thành quả.

b. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

– Ví dụ này có các phép ẩn dụ: gần mực thì đen và gần đèn thì sáng

– Nét tương đồng giữa gần mực thì đen với gần đèn thì sáng được so sánh ngâm trong ẩn dụ là:

+ Gần mực thì đen – gần những nơi hoặc những người xấu, không trong sáng (mực vốn có màu đen) tất sẽ bị nhiễn thói xấu, sẽ trở nên đen tối, xấu xa.

+ Gần đèn thì sáng- gần những nơi hoặc những người tốt, trong sáng (đèn vốn phát ra ánh sáng) sẽ học được những thói quen tốt, những đức tính tốt.

Thuyên về có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

(Ca dao)

– Ví dụ này có các phép ẩn dụ: thuyền và bến

– Nét tương đồng giữa thuyền với bến được so sánh ngầm trong ẩn dụ là:

+ Thuyền – chỉ người ra đi, người con trai

+ “Bến” – chỉ người ở lại, người con gái.

Ngày ngày mặt trời đi qua bên lăng

Thấy một Mặt trời trong làng rất đỏ.

( Viễn Phương)

– Ví dụ này có phép ẩn dụ: Mặt trời trong lăng.

– Nét tương đồng Mặt trời trong lăng được so sánh ngâm trong ẩn dụ là: Mặt trời trong lăng chỉ Bác Hồ, vị cha già, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Bác như mặt trời chiếu sáng, soi đường cho nhân dân ta bước đi trên con đường cách mạng và mãi mãi toả ra sức nóng làm ấm áp lòng chúng ta.

3. Bài tập này nếu hai yêu cầu:

– Tìm các ẩn dụ chuyển đổi cảm giác trong các câu văn, câu thơ dẫn SGK trang 70.

– Nêu tác dụng của những phép ẩn dụ ấy trong việc miêu tả sự vật, hiện tượng.

a. Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác có trong câu văn của Tô Hoài là thấy mùi hôi chín chảy qua mặt.

– Tác dụng: Mùi hôi chín vốn chỉ ngửi được nên không thể dùng thị giác hay xúc giác để nhìn thấy, cảm thấy được. Nhưng qua phép ẩn dụ này, mùi hôi thơm như được nhìn rõ từng dòng, như đang chảy tràn qua mặt. Cách viết như vậy đã thể hiện được cụ thể hơn, rõ ràng hơn cái đắm say, ngây ngất của người viết khi ngửi thấy mùi hôi chín.

b. Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác có trong câu thơ của Hoàng Trung Thống là: ánh nắng chảy đầy oai.

– Tác dụng: Ánh nắng vốn chỉ nhìn được nên không thể dùng khứu giác hay xúc giác để ngửi thấy, cảm thấy được. Nhưng qua phép ẩn dụ, ánh nắng trở nên có dáng, có hình, có đường nét một cách cụ thể, rõ ràng. Cách viết như vậy đã tạo cho người đọc, người nghe cảm giác mới lạ, tăng được sức gợi tả cho câu thơ.

c. Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác có trong câu thơ của Trần Đăng Khoa là tiếng rơi rất mỏng.

– Tác dụng: Tiếng rơi vốn chỉ nhìn được nên không thể dùng thính giác hay xúc giác để nghe được, cảm được. Nhưng qua phép ẩn dụ này, tiếng rơi trở nên có hình, có đường nét cụ thể, rõ ràng. Cách viết như vậy đã giúp cho người đọc cảm nhận và hình dung ra một cách đầy đủ hơn, có hình ảnh hơn về tiếng rơi rất nhẹ của lá – một tiếng rơi vốn không thể cảm nhận ra được bằng thính giác. Cách miêu tả như vậy là tả ngoại cảnh (lá rơi) bằng tấm cảnh (nghe như là nơi nghiêng).

d. Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác trong câu thơ của Phan Thế Cải là ướt tiếng cười của bố.

Tác dụng: Tiếng cười vốn chỉ nghe được nên không thể dùng thị giác hay xúc giác để nhìn thấy, cảm thấy được. Nhưng qua phép ẩn dụ này, tiếng cười trở nên có hình, có khối, cụ thể và rõ ràng. Cách viết như vậy tạo cho người đọc sự liên tưởng mới lạ đồng thời cũng làm cho câu thơ giàu hình ảnh và hàm súc hơn.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa