Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Buổi học cuối cùng (An-phông-xơ Đô-đê)

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Buổi học cuối cùng (An-phông-xơ Đô-đê) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 22 | Soạn bài Buổi học cuối cùng (An-phông-xơ Đô-đê) | Tài Liệu Chùa

soạn văn 6 soạn bài Buổi học cuối cùng (An-Phông-Xơ Đô-Đê)
soạn văn 6 soạn bài Buổi học cuối cùng (An-Phông-Xơ Đô-Đê)
Vài nét về tác giả và tác phẩm

An-phong-xơ Đô-đê (1840 – 1897), sinh tại Nim, miên Prồoăngxơ trong một gia đình buôn bán bị phá sản. Năm 18 tuổi, không chịu nổi những bất công, bạc đãi, ông lên Pari viết văn và sống tại đây suốt những năm còn lại. A.Đô-đề bắt đầu nổi tiếng với truyện tự thuật “Lớpoti Sôzơ (1886), sau đó xuất bản tập truyện ngắn xuất sắc: “Những bức thư viết từ cối xay gió” (1869) và đến cuốn “Toctaranh ở Taraxcông” (1872), danh tiếng A.Đô-đề đã trở nên lừng lẫy.

Sau cách mạng Công xã Pari, A.Đô-để viết nhiều về cuộc sống ở Pari với một bút pháp phê phán sắc sảo. Ông cho in liên tiếp: “Frômăng em và Ricle anh” (1874); “Những ông vua lưu đày” (1879); “Người bất tử (1888)…

Tác phẩm của A.Đô-để thấm đượm một tinh thần nhân đạo sâu xa gây xúc động nhẹ nhàng, một chất thơ trong sáng, lòng yêu đời, tạo nên những rung cảm sâu kín, đầy niềm tin vào con người bình thường, can đảm”. (Đỗ Đức Hiểu, Từ điển văn học, NXB Thế giới, H. 2004)

1. Câu hỏi 1 SGK trang 54
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc phần đánh dấu * trang 54 SGK Ngữ văn 6 tập hai để hiểu hoàn cảnh, thời gian, địa điểm diễn ra câu chuyện.

Xem lại đoạn: “Trời sao mà ấm… chỉ huy Đức”, thời gian, địa điểm diễn ra câu chuyện và tưởng tượng ra khung cảnh làng quê An-dat ở thời điểm đó.

b. Gợi ý trả lời

Câu chuyện về buổi học cuối cùng diễn ra vào một buổi sáng năm 1871, khi nước Pháp thua trận trong cuộc chiến tranh Pháp – Phổ, tại vùng An-dat, vùng đất giáp biên giới với Phổ bị nhập vào nước Phố, cùng với vùng Loren. Các trường học ở đây bị buộc phải học bằng tiếng Đức. Truyện viết về buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở một trường làng An-dat.

Qua con mắt quan sát và cách miêu tả của chú bé Phrăng, chúng ta có thể hình dung ra hoàn cảnh, địa điểm của câu chuyện. Mặc dù thiên nhiên thì vẫn đẹp, vẫn quyến rũ thế: “Trời sao mà ấm đến thế, trong trẻo đến thế”; “Nghe thấy sáo hót ven rừng” nhưng bên cạnh đó, đã thấy bóng dáng sự bất thường “trên cánh đồng cỏ Rip-pe, sau xưởng cưa, lính Phổ đang tập”; và nếp sống của người dân nơi đây cũng bị đảo lộn, bị bao trùm bởi một không khí hoang mang, lộn xộn: “… Có nhiều người đứng trước bảng dán cáo thị có lưới che. Từ hai năm nay, chính từ chỗ ấy, lan đến chúng tôi mọi tin chẳng lành, những cuộc thất trận, những vụ trung thu, những mệnh lệnh của bạn chỉ huy Đức”… Đó chính là bối cảnh diễn ra câu chuyện.

Tên truyện Buổi học cuối cùng rất có ý nghĩa. Đây không phải buổi học cuối cùng theo nghĩa kết thúc một giai đoạn này, để bắt đầu một giai đoạn khác (ví dụ buổi học cuối cùng thời trung học…). Những buổi học như thế thường được lưu giữ cùng những nỗi niềm lưu luyến nhẹ nhàng. Đây là buổi học cuối cùng bằng tiếng mẹ đẻ trước khi bắt buộc phải học bằng tiếng nói của kẻ thắng trận, cũng là tiếng nói của kẻ thù dân tộc mình. Nó là sự kết thúc do áp đặt và không hứa hẹn sự bắt đầu tốt đẹp nào. Vì lẽ đó, nó vừa mang niềm phẫn uất, xót xa, đồng thời lại có một ý nghĩa thiêng liêng đối với những học sinh, thầy giáo Ha-men và những người dân Pháp; là thời điểm họ chợt thức tỉnh nhiều điều, tự nhận thức và thể hiện sâu sắc lòng yêu nước mà cụ thể đây là lòng yêu tiếng nói của dân tộc mình.

Ngoài ra, tên truyện còn hàm ý phủ định gay gắt đối với kẻ thù. Sau này còn nhiều buổi học khác nữa nhưng bằng tiếng Đức, vì thế không được coi là buổi học nữa và đối với họ đây là buổi học cuối cùng trong đời.

2, Câu hỏi 2 SGK trang 55
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Trước hết, chúng ta phải xác định được nhân vật xưng “tổ” ở đây là ai. Qua cách xưng như thế, dễ dàng nhận ra ngôi của nhân vật người kể chuyện. Ngoài ra, đọc toàn bài để tìm ra các nhân vật khác. Nhân vật gây ấn tượng nổi bật nhất thường là nhân vật chính, xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm, được khắc họa chi tiết, sống động. Trả lời câu hỏi này cần có ý kiến, cảm nhận chủ quan. Tuy nhiên, cố gắng giải thích được tại sao nhân vật đó lại gây ấn tượng nổi bật đối với mình.

b. Gợi ý trả lời 

Truyện được kể theo lời chú bé Phrăng, ngôi thứ nhất. Chú kể lại với tư cách là một học sinh tham gia trực tiếp buổi học cuối cùng đó. Những gì Phrăng kể lại chính là những điều chú bé đã nghe thấy, nhìn thấy, cảm nhận. Câu chuyện vì thế được tái hiện chân thực và sinh động.

Ngoài Phrăng, truyện còn có các nhân vật: thầy Ha-men, các bạn cùng lớp, dân làng… Trong số đó, nhân vật thầy Ha-men gây ấn tượng nổi bật nhất. Qua cảm nhận, quan sát và lời kể của cậu học trò Phrăng, thầy Ha-men hiện lên như một hình tượng lớn lao, đẹp đẽ, đầy xúc động. Thầy cũng là người đã làm thức tỉnh trong Phrăng và nhiều học trò khác ý nghĩa của tiếng nói dân tộc và nhất là lòng yêu Tổ quốc.

 3. Câu hỏi 3 SGK trang 55.
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Cần chú ý những chi tiết miêu tả quang cảnh trên đường và ở trường và không khí trong lớp học của buổi học cuối cùng, so sánh những chi tiết miêu tả không khí của những buổi học bình thường để thấy sự thay đổi, khác lạ.

b. Gợi ý trả lời

Quang cảnh trên đường và ở trường vào buổi sáng câu chuyện diễn ra rất khác thường. | Trên đường đến trường, chú bé nhận thấy: trước trụ sở xã, “có nhiều người đứng trước bảng dán cáo thị có lưới che”. Theo kinh nghiệm của cậu, thì “chính từ chỗ ấy, lan đến chúng tôi mọi tin chẳng lành”. Như vậy quang cảnh trên báo hiệu một việc gì đó đã xảy ra và hẳn đó là tin xấu.

Quang cảnh ở trường cũng rất khác lạ. Nếu như ngày thường, vào lúc bắt đầu buổi học, “tiếng ồn ào như chợ vỡ tang ra tận ngoài phố, thì hôm đó mọi sự đều bình lặng y như một buổi sáng chủ nhật”. Hàng ngày, thầy Ha-men nghiêm khắc thì hôm nay lại không hề trách phạt Phrăng về tội đi muộn, ngược lại rất dịu dàng. Sự khác biệt còn ở chỗ thầy giáo mặc lễ phục như trong những dịp đặc biệt và phía cuối lớp có những người dân làng ngồi lặng lẽ… Tất cả tạo ấn tượng về một không khí khác thường và trang trọng”; nó báo hiệu một sự kiện quan trọng sắp diễn ra.

4. Câu hỏi 4 SGK trang 55
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Truyện là lời kể của chú bé Phrăng. Vì vậy tâm trạng, ý nghĩ của chú được bộc lộ trực tiếp, rõ ràng. Cần chọn lọc những chi tiết ấy, đồng thời tìm ra mạch diễn biến, những biến chuyển trong tâm trạng của nhân vật này.

 b. Gợi ý trả lời

Diễn biến tâm trạng của chú bé Phrăng trong truyện rất phong phú và sinh động. Ban đầu, chú bé ngạc nhiên khi chứng kiến sự khác lạ diễn ra trên đường và ở trường học. Ngay sau khi nghe thấy Ha-men nói lên sự thật “Hôm nay là bài học Pháp văn cuối cùng của các con”, tâm trạng của Phrăng chuyển sang choáng váng. Đây chính là điểm mốc quan trọng trong thái độ của cậu bé đối với việc học tiếng Pháp. Lúc đầu cậu còn cảm thấy sợ hãi, chán nản, trốn tránh môn học, thậm chí có ý định “hay là trốn học và rong chơi ngoài đồng nội”. Nhưng giờ đây chú thấy tiếc nuối và ân hận vì sự lười học, ham chơi của mình. Một sự thay đổi lớn lao đang diễn ra trong đầu chú bé Phrăng: Những cuốn sách trước đây là nỗi ám ảnh, khiến chủ cảm thấy chán ngán, mang nặng”, giờ đây lại trở thành “những người bạn cố tri”, cậu thấy tự giận mình vì đã bỏ phí thời gian, bỏ học, ham chơi. Nghĩ đến những điều đó, Phrăng thấy xót xa, ân hận và đau đớn: … “Vậy là sẽ chẳng còn bao giờ được học nữa ư, phải dừng ở đó ư!… Tôi sẽ rất đau lòng phải giã từ. Bên cạnh đó là sự căm thù quân giặc. Cậu gọi chung là “quân khốn nạn”.

Khi bị gọi trả lời về quy tắc phân từ, Phrăng xấu hổ, tự giận mình vì đã không thuộc bài đến mức “không dám ngẩng đầu lên”. Cậu càng thấm thía và đau xót khi nghe những câu nói của thầy Ha-men: “Ôi, tai họa lớn của xứ An-dat chúng ta là bao giờ cũng hoãn việc học đến ngày mai”.

Chú bé lúc này đã nhận thức được sự quan trọng của việc học tiếng mẹ đẻ. Tình yêu tiếng nói dân tộc thức dậy và cậu bé kinh ngạc khi thấy mình hiểu bài dễ dàng đến đến thế. Cậu cũng chưa bao giờ “chăm chú nghe đến thể”. Thái độ đối với môn Pháp văn của Phrăng đã thay đổi hoàn toàn. | Chứng kiến toàn bộ buổi học, nghe những lời thầy Ha-men nói, chú bé Phrăng nhận thấy “chưa bao giờ tôi cảm thấy thầy lớn lao đến thế”. Như vậy, bên cạnh tình cảm đối với môn Pháp văn, ở chú bé còn nảy sinh lòng cảm phục, tự hào, yêu thương, biết ơn đối với người thầy đáng kính.

 5.Câu hỏi 5 SGK trang 55
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Dựa vào gợi ý của sách giáo khoa, tìm các chi tiết miêu tả trang phục, thái độ đối với học sinh, những lời nói, hành động, cử chỉ… của thầy Ha-men trong buổi học cuối cùng.

Trên cơ sở hiểu nhân vật, những phẩm chất, đặc điểm của nhân vật, cần nêu cảm nghĩ chủ quan của chính mình (có thể liên hệ với các thầy cô giáo của mình; đặt mình vào địa vị cậu bé Phrăng để suy nghĩ về người thầy vùng An-dat trong văn bản).

b. Gợi ý trả lời

Nhân vật thầy giáo Ha-men được miêu tả rất sinh động qua lời kể của chú bé Phrăng. Hình ảnh thây hiện lên thật cảm động và đáng kính.

Chi tiết về trang phục của thây: thầy “mặc chiếc áo rơ-lanh-gột màu xanh lục (…) thấy chỉ dùng vào những hôm có thanh tra hoặc

phát phần thưởng” cho thấy đối với thầy buổi học này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thiêng liêng.

Thấy Ha-men dịu dàng nhắc nhở mà không hề trách mắng Phrăng khi cậu đến muộn và không thuộc bài. Thầy kiên nhẫn giảng giải bài học như muốn cố gắng truyền hết kiến thức của mình cho các em học sinh, chuẩn bị những tờ mẫu mới tinh, trên có viết bằng chữ “rông” tuyệt đẹp… Thậm chí thầy còn tự nhận lỗi trước học sinh về bản thân mình. Những chi tiết đó chứng tỏ thây Ha-men là một người thấy rất nhiệt tình, yêu nghề, có trách nhiệm và có tình yêu vô hạn đối với các thế hệ học sinh.

Những lời nói của thầy Ha-men với Phrăng với các em học sinh và cả dân làng thể hiện điều tâm niệm thiết tha thầy muốn gửi gắm cho mọi người trong buổi học cuối cùng. Đó là lời khuyên hãy yêu quý, trau dồi tiếng nói của dân tộc vì đó cũng chính là yêu đất nước, quê hương bởi vì “khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chia khóa chốn lao tù…”

 Hình ảnh thây Ha-men vào lúc kết thúc buổi học mới thực cảm động. Đó chính là giây phút thấy được dạy tiếng Pháp lần cuối trên đất An-dat. Lúc đó, nỗi đau đớn dường như đã lên tới đỉnh điểm, đến nỗi “người tái nhợt… thầy nghẹn ngào không nói được hết câu”. Việc thầy “quay về phía bảng, cầm một hòn phấn và dằn mạnh hết sức, thầy cô viết thật to: “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM?” là minh chứng cho tình yêu đất nước, tiếng nói của dân tộc thiết tha, mãnh liệt và sự đau đớn cực độ khi chứng kiến giờ phút thất bại của Tổ quốc mình: người dân của đất nước mình phải từ bỏ tiếng mẹ đẻ để học tiếng của kẻ thù. Vào thời điểm ấy, tiếng nói yêu nước, tự hào dân tộc đã bật lên thành một tiếng hỗ tuy không nên lời nhưng mạnh mẽ và quyết đoán: “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”.

Nỗi xúc động, đau đớn dường như làm thầy Ha-men kiệt sức, “đầu dựa vào tường”, thầy giơ tay ra hiệu… Chính lúc đó, trong mắt cậu bé Phrăng, thầy Ha-men lại lớn lao, đẹp đẽ lạ thường. Đó là vì cậu đã cảm nhận được tình yêu nước cháy bỏng của người thầy đáng kính.

Những người thấy như thấy Ha-men không chỉ dạy cho học sinh kiến thức mà còn định hình tính cách cho các em, làm thức tỉnh ở học sinh những tình cảm, suy nghĩ đẹp đẽ. Đó là phẩm chất cần có của mỗi người thây.

6. Câu hỏi 6 SGk trang 55
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Nắm vững lý thuyết về so sánh trong văn miêu tả và tác dụng của nó. Soi chiếu vào văn bản này để trả lời câu hỏi.

b. Gợi ý trả lời

Trong truyện có khá nhiều lần nhà văn sử dụng biện pháp so sánh:

Thông thường, bắt đầu buổi học, tiếng ồn ào như vỡ chợ vang ra tận ngoài phố”.

“…quyển ngữ pháp, quyển thánh sử của tôi giờ đây dường như những người bạn cố tri mà tôi sẽ rất đau lòng phải giã từ.

“…chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù.

“Những tờ mẫu treo trước bàn học trông như những lá cờ nhỏ bay phấp phới khắp xung quanh lớp”.

Những so sánh này làm tăng sức gợi hình, gợi cảm của câu văn. Những suy nghĩ, tình cảm, khái niệm vốn trừu tượng nhờ so sánh sẽ được hình tượng hóa, cụ thể hóa, do thế mà có khả năng diễn đạt, biểu cảm sâu sắc.

Lưu ý, đây là câu chuyện được kể bằng lời của một chú bé, vì vậy phép so sánh được dùng rất nhiều và cách so sánh cũng rất cụ thể, dễ hiếu. Tư duy trong sáng, hồn nhiên, thơ trẻ ấy đã diễn đạt được nội đau một cách chân thành và xúc động.

7. Câu hỏi 7 SGK trang 55
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để hiểu ý nghĩa của câu nói này, cần hiểu và thấm thía hoàn cảnh đau xót lúc bấy giờ của nước Pháp (liên hệ với hoàn cảnh nước ta trong lịch sử thời Bắc thuộc). Phân tích hai vế so sánh trong câu nói để thấy giá trị khẳng định mạnh mẽ của câu nói.

b. Gợi ý trả lời

Câu nói của thầy Ha-men trong buổi học cuối cùng “…khi một dân tộc… lao tù” là lời khẳng định giá trị to lớn của tiếng mẹ đẻ. Có thể hiểu giá trị ấy là ở chỗ chừng nào người dân của một đất nước nô lệ còn nắm được tiếng nói của dân tộc họ có nghĩa họ vẫn còn ý thức rằng họ thuộc về dân tộc ấy, còn tự hào, yêu quý đất nước ấy, còn ý thức đấu tranh cho Tổ quốc mình. Đồng thời, khi đó, tiếng dân tộc chính là phương tiện để khơi dậy lòng yêu nước, kêu gọi sự đồng lòng chiến đấu giữa những người cùng chung thứ tiếng để đứng lên phá bỏ gông xiềng. Như vậy, yêu quý, giữ gìn tiếng mẹ đẻ cũng chính là biểu hiện sâu sắc của lòng yêu nước.

 Trong nỗi đau xót tột cùng, thầy Ha-men khẳng định một cách chắc chắn: “chẳng khác gì…”. Điều đó thể hiện niềm tin mạnh mẽ của thay vào vận mệnh, tương lai thoát khỏi ách nô lệ của Tổ quốc mà sự thất bại trước mắt cũng không thể nào lay chuyển được. Dù dân tộc có bị thống trị, tiếng mẹ đẻ bị thay thế nhưng trong tâm hồn, tình cảm của người dân vẫn còn nguyên vẹn tình yêu sâu sắc với tiếng nói của dân tộc, với đất nước, quê hương.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa