Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Sự tích Hồ Gươm

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Sự tích Hồ Gươm – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 4 | Soạn bài Sự tích Hồ Gươm | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 6 soạn bài Sự tích Hồ Gươm
Soạn văn 6 soạn bài Sự tích Hồ Gươm

Đọc lại định nghĩa về truyền thuyết ở bài học trước (trang 7)

1. Câu hỏi 1 SGK trang 42
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Cần đọc lại đoạn đầu của truyện: “Vào thời giặc Minh… để họ giết giặc”. Xem thêm phần chú giải về: giặc Minh, Lam Sơn, Đức Long Quân trong SGK để hiểu rõ hơn. | Cần nhớ: Sự tích Hồ Gươm là truyền thuyết lịch sử, nên truyện có liên quan đến nhiều sự thật lịch sử là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vào thế kỷ XV của nhân dân ta do người anh hùng Lê Lợi lãnh đạo. Vì thế cần tham khảo thêm kiến thức lịch sử để hiểu sâu sắc hơn về các chi tiết, các sự việc trong truyện.

b. Gợi ý trả lời 

Giặc Minh sang xâm lược và đô hộ nước ta, làm nhiều điều bạo ngược. Nhân dân ta căm hận chúng đến tận xương tuỷ. Trước tình hình đất nước rơi vào cảnh nô lệ, Lê Lợi đã lãnh đạo nghĩa quân Lam Sơn nổi dậy chống lại ách thống trị của quân Minh. Nhưng do tương quan lực lượng, quân giặc mạnh mà quân ta buổi đầu khởi nghĩa, thế lực còn non yếu, thiếu thốn về nhiều mặt nên nghĩa quân của Lê Lợi đã bị thất bại nhiều lần,

Vì vậy, Đức Long Quân đã cho nghĩa quân mượn gươm thân để đánh đuổi giặc Minh.

Gươm thân là một hình ảnh thiêng liêng, cao quý, là báu vật trợ giúp nhân dân trong cuộc khởi nghĩa chống lại quân xâm lược.

Trong các truyện dân gian, thần tiên thường hay xuất hiện giúp đỡ người tốt, ủng hộ việc làm chính nghĩa và cuối cùng chính nghĩa bao giờ cũng chiến thắng.

Như vậy, cuộc khởi nghĩa của quân Lam Sơn đã được tổ tiên ủng hộ. cho mượn báu vật nên nghĩa quân ắt sẽ thắng lợi.

c. Mở rộng kiến thức

Sử sách nước ta có ghi chép, năm 1407 nhà Minh huy động lực lượng lớn bao gồm 20 vạn quân cùng với hàng chục vạn dân phu, do tướng Trương Phụ cầm đầu đã tràn vào biên giới nước ta.

Lúc đó, nước ta dưới triều đại nhà Hồ, Hồ Quý Ly làm vua. Nhà Hồ đã đứng lên khởi nghĩa, chống lại giặc Minh nhưng bị thất bại. Cha con Hồ Quý Ly bị bắt, kết thúc triều đại nhà Hồ.

Khi vào nước ta, giặc Minh đã dùng nhiều thủ đoạn hà khắc trong việc cai trị. Đầu tiên, chúng xoá bỏ quốc hiệu Đại Việt, đổi thành quận Giao Chỉ, sáp nhập nước ta vào nước Trung Quốc. Chúng thi hành nhiều chính sách bóc lột tàn bạo, đặt ra hàng trăm thứ thuế nặng nề, vơ vét sản vật quý hiếm, bóc lột sức lao động của nhân dân. Chúng còn bắt cả phụ nữ, trẻ em, thầy thuốc giỏi đem về Trung Quốc làm nô tì. Chúng cưỡng bức nhân dân ta phải bỏ phong tục, tập quán của mình từ cách ăn mặc đến các nghi thức ma chay, cưới xin và các phong tục khác theo kiểu người Minh. 

Chúng thiếu huỷ phần lớn các sách quý của nhân dân ta, thậm chí, chúng còn dùng hình thức khủng bố dã man mất hết nhân tính: mổ bụng, mọi gan, rán thịt người lấy mỡ… Nhân dân ta vô cùng căm hận quân Minh xâm lược.

Tội ác của bọn giặc Minh được vị anh hùng Nguyễn Trãi, người trực tiếp tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tổng kết khi quân dân ta đã đánh thắng giặc Minh (1428) trong ống thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn.

Vùi con đổ xuống dưới hầm tai nạ

Và:

Độc các thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bản thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Lê Lợi lúc đó là một hào trường có uy tín. Ông là người cương trực, có tấm lòng yêu nước thiết tha. Đau lòng trước cảnh đất nước lầm than, nhân dân cơ cực, Lê Lợi quyết chí tập hợp nghĩa quân cứu dân, cứu nước. Quân Minh nhiều lần mua chuộc ông bằng chức tước, lấy vàng bạc dụ dỗ, nhưng âm mưu của chúng đều bị thất bại.

Ông từng nói: Ta đây quân đánh giặc không phải đi tham phú quý mà vì muốn cho ngàn đời sau này biết rằng, ta không chịu thuần phục quân giặc tàn ngược.

Ngày 7.2.1418, Lê Lợi dụng cờ khởi nghĩa Lam Sơn tự xưng là Bình Định Vương, lãnh đạo nghĩa quân giết giặc cứu nước.

Trải qua hơn 10 năm (1418-1428), nghĩa quân Lam Sơn nếm mật nằm gai gian khổ, cuộc khởi nghĩa đi đến thắng lợi. Lệ Lợi lên làm vua, mở ra một triều đại mới trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là một cuộc chiến tranh vệ quốc với sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân. Bằng tài năng, đức độ của mình, Lê Lợi đã tập hợp nhân dân đoàn kết một lòng chống giặc Minh xâm lược, giành lại quyền độc lập cho dân tộc. Lịch sử phong kiến Việt Nam sang trang mới, mở ra thời đại độc lập tự chủ:

Đất nước từ đây vững bền 

Non sông từ đây đổi mới

2. Câu hỏi 2 SGK trang 42
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc lại đoạn văn: “Hồi ấy, ở Thanh Hóa… để báo đến cho Tổ quốc”.

Chú ý chi tiết, Lê Thận ba lần kéo lưới, cả ba lần lưỡi gươm đều mắc vào lưới. Con số ba nói lên điều gì? Cả ba lần gươm đều mắc vào lưới là có dụng ý hay chỉ là sự ngẫu nhiên?

b. Gợi ý trả lời

Lê Lợi nhận được gươm thần sau một quá trình lâu dài, không phải cùng một thời gian. Lúc đầu, chàng đánh cá Lê Thận vớt được lưỡi gươm từ dưới nước. Lê Thận đi thả lưới, qua 3 lần kéo lưới đều có một lưỡi gươm mắc vào, chàng thấy lạ nên mang lưỡi gươm về nhà. Về sau Lê Thận gia nhập nghĩa quân khởi nghĩa Lam Sơn. Sau này, khi gặp được chủ tướng Lê Lợi, lưỡi gươm đã phát ra ánh sáng.

Khi bị quân giặc đuổi, Lê Lợi đi qua khu rừng, phát hiện ra ánh sáng lạ trên ngọn đa” chính là chuỗi gươm nạm ngọc. Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi đã đem chuối gươm về và thật kỳ lạ, lưỡi gươm (ở dưới nước) kết hợp với chuỗi gươm (trên cạn) thì vừa như in, xuất hiện hai chữ “Thuận Thiên”, tức là hợp ý trời.

Việc nhận gươm diễn ra hết sức kỳ lạ, trên cùng một khúc sông rộng, Lê Thận ba lần kéo lưới đều thấy một lưỡi gươm. Con số 3 ở đây mang ý nghĩa khẳng định việc nhận gươm thần không phải là một sự ngẫu nhiên tình cờ, mà chính là một sự trợ giúp của thần cho nghĩa quân Lam Sơn đánh giặc.

Sau sự kết hợp kỳ lạ của lưỡi và chuỗi gươm, Lệ Thận dạng gươm lên cho Lê Lợi: Đây là trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này, để báo đến Tổ quốc.

Câu nói của Lê Thận thể hiện niềm tin của ông đối với Lê Lợi một lòng, một dạ, cũng như gươm quý đã tìm thấy tướng tài, tìm đúng người để thực hiện sứ mệnh lớn lao của lịch sử.

Việc nhận gươm thân mang nhiều ý nghĩa. Chủ tướng Lê Lợi nhận được chuôi gươm trên rừng. Lê Thận nhận lưỡi gươm dưới nước, ghép lại vừa như in, thể hiện quân tướng trên dưới một lòng. Việc nhận gươm không diễn ra cùng một không gian, thời gian nói lên khả năng giết giặc cứu nước ở khắp mọi nơi: tự miền sông nước, đến miền rừng núi, hiệu rộng ra là trên toàn đất nước.

Mặt khác, hai bộ phận của thanh gươm rời nhau, nhưng ghép lại thì vừa vặn thể hiện sự đồng lòng, nhất trí của quân tướng và toàn dân tộc.

Gươm thần sáng ngời hai chữ “Thuận Thiên” (nghĩa là: theo ý trời) biểu hiện sứ mệnh dân tộc, sứ mệnh lịch sử đánh giặc, cứu nước đã được trời trao cho chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn.

3. Câu hỏi 3 SGK trang 42
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc kỹ đoạn văn: “Từ đó nhuệ khí của nghĩa quân… trên đất nước”.

So sánh khí thế của nghĩa quân trước khi có gươm thần và sau khi có gươm thần để thấy được sức mạnh của gươm thần.

b. Gợi ý trả lời 

Từ khi có gươm thân, khí thế của quân ta ngày càng tăng. Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, thanh gươm cùng nghĩa quân có mặt khắp các trận địa. Sức mạnh của nghĩa quân được tăng lên gấp bội. Nghĩa quân không phải trốn tránh như trước nữa, mà chủ động tìm giết giặc. Họ cũng không phải ăn uống khổ cực như trước mà đã có những kho lương của giặc tiếp tế.

Gươm thần đã làm tăng uy lực của nghĩa quân. Gươm thân là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết, trên dưới một lòng muốn đánh đuổi quân xâm lược.

Cuối cùng gươm thần cùng nghĩa quân đánh tan quân xâm lược, đem lại thanh bình cho dân tộc 

4. Câu hỏi 4 SGK trang 42
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Để trả lời câu hỏi này, cần đọc kỹ đoạn cuối của truyện: “Một năm sau khi đuổi giặc Minh… hay hồ Hoàn Kiếm”.

b. Gợi ý trả lời

Long Quân cho rùa vàng lên đòi lại gươm thân khi đất nước đã thanh bình, giặc Minh đã sạch bóng trên đất nước ta và Lệ Lợi đã lên làm vua đóng đô ở đất Thăng Long – Hà Nội.

Cảnh nhà vua Lê Lợi trả gươm cho rùa vàng diễn ra trong một không khí linh thiêng, trang nghiêm, khi vua cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng. Thanh gươm bên mình bỗng động đậy. Rùa vàng xuất hiện tiến thẳng về phía thuyền vua, nổi trên mặt nước và nói:

“Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”. Rùa vàng lặn xuống nước cùng thanh gươm báu, còn để lại ánh sáng trên mặt hồ.

Nếu chi tiết cho mượn gươm thần kỳ lạ thì chi tiết đòi lại gươm lại trang nghiêm, vừa thực lại vừa ảo lại vừa linh thiêng. Ánh sáng của gươm thần lại một lần nữa phát sáng như minh chứng cho sự chiến thắng của quân và dân ta, khẳng định sự chiến thắng của chính nghĩa và công lao to lớn của nghĩa quân Lam Sơn. | Thanh gươm là biểu tượng cho sự tranh đấu, khí thế đánh giặc của nghĩa quân. Long Vương lấy lại gươm thân khi đất nước thanh bình, cũng là tiớc vọng của toàn dân tộc muốn sống thanh bình, không phải lâm vào cảnh binh đao máu lửa.

5. Câu hỏi 5 SGK trang 43
a. Hướng dẫn tìm hiểu 

Đọc kỹ Ghi nhớ trong SGK và tổng hợp kiến thức của toàn bài để hiểu rõ ý nghĩa của truyện.

b. Gợi ý trả lời 

Sự tích Hồ Gươm kể về việc nghĩa quân Lam Sơn được Đức Long Quân cho mượn gươm thần đánh giặc Minh, đan xen cả những yếu tố kì ảo (Rùa vàng. Gươm thân) nhưng vẫn dựa trên sự thật lịch sử. Đó là cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược của nghĩa quân ở vùng Lam Sơn do người anh hùng Lê Lợi lãnh đạo vào thế kỷ XV, và gắn với địa danh Hồ Gươm – hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội) ngày nay.

|Truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính nhân dân và chiến thắng oanh liệt của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo vào thế kỷ XV, đồng thời truyện cũng thể hiện khát vọng hòa bình của nhân dân ta. (Gác kiếm, trả gươm khi đất nước đã thanh bình). | Ngoài ra, truyện còn mang ý nghĩa giải thích tên gọi của hồ Hoàn Kiêm (Hồ Gươm) ở Hà Nội ngày nay. c. Mở rộng kiến thức | Truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo khác với chính sư và văn học viết. Nếu lịch sử cố gắng phản ánh chính xác sự kiện và nhân vật, thì truyền thuyết lại quan tâm đến ý nghĩa lay động tình cảm và nhận thức của người nghe về sự kiện ấy. Vì vậy, nhân vật hay sự kiện truyền thuyết lịch sử đều được mã hóa, có sự tham gia của nhiều chi tiết hư cấu kì ảo. Truyền thuyết trở nên sinh động và hấp dẫn nhờ thế. Có nhiều truyền thuyết dân gian kể về người anh hùng trong mối quan hệ với nhân dân, trong đó nhân dân là lực lượng quan trọng để nhân vật làm nên chiến thắng.

Sự nghiệp của người anh hùng không thể tách rời vai trò của tập thể nhân dân trong lịch sử.

Trần Hưng Đạo có thể đánh thắng quân Nguyên là nhờ người đan sọt làng Phù Ủng, người quản tượng Dã Tượng, người phụ tá Yết Kiêu và bà lão bán hàng nước trên bến Bạch Đằng Giang.

Người anh hùng Lê Lợi có thể dựng cờ khởi nghĩa, đánh được giặc Minh là nhờ Lê Thận dâng gươm báu, Lê Lai liều chết cứu chủ, vợ chồng người nông dân bắt cá dưới đìa và nhiều anh hùng vô danh khác.

Trong những truyền thuyết khác viết về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như: Lê Lợi và vợ chồng ông lão bắt cá, Hăm một Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, hăm ba giỗ mụ hàng đầu đều nói đến sự giúp sức của nhân dân cho người anh hùng Lê Lợi.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo thế kỉ XV chiến thắng quân Minh xâm lược đã đi vào lịch sử dân tộc với một niềm tự hào to lớn,

Mùa xuân năm 1428, giặc Minh bị quét sạch ra khỏi bờ cõi nước ta, cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh hoàn toàn thắng lợi. Thay  lời Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh. Đó là cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân, của toàn dân tộc:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo

và:

Nhân dân bốn cõi một nhà

Dụng cần trục ngọn cờ pháp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoa nước sông chén rượu ngọt ngào.

Trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm, Long Quân trao gươm báu giúp nghĩa quân chiến thắng giặc Minh là một biểu tượng đẹp, ca ngợi tính chất chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Cuộc khởi nghĩa này hội đủ cả 3 nhân tố: địa lợi (vùng núi Chí Linh địa thế hiểm trở); nhân hoà (lòng dân muôn người như một), và cả thiên thời (trời và thân đều trợ giúp).

6. Câu hỏi 6 SGK trang 42
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đây là câu hỏi khó, cần sự suy luận logic và sự tổng hợp kiến thức. Học sinh cần tìm đọc các truyện truyền thuyết Việt Nam.

b. Gợi ý trả lời

Hình ảnh Rùa vàng (thân Kim Quy) xuất hiện trong nhiều truyền thuyết như: Truyền thuyết An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy, Sự tích Ngu Hanh Sơn…

Trong các truyện truyền thuyết Việt Nam, Rùa vàng là biểu tượng thiêng liêng, tượng trưng cho tổ tiên, chỉ thiêng của sông núi, tư tưởng tình cảm và trí tuệ của nhân dân. Rùa vàng bao giờ cũng sống môi trường nước, có thể là hồ lớn hay biển rộng, là người của Đức Long Quân (tổ tiên của dân tộc).

Thần Kim Quy như một lá bùa bảo hộ cho chính nghĩa. Thần | thường xuất hiện vào lúc nhân vật gặp khó khăn để trợ giúp, mách bảo và chỉ đường cho nhân vật chính nghĩa.

Trong Truyền thuyết An Dương Vương, thần Kim Quy giúp vua xây thành, chế nỏ thần đánh bại quân Triệu Đà xâm lược. Thần cũng chỉ ra cho nhà vua biết Mị Châu chính là kẻ đã nổi giáo cho giặc.

Hình tượng Rùa vàng đã trở thành một hình ảnh quen thuộc trong văn hóa dân gian Việt Nam. Trong tâm thức người Việt, Rùa vàng là một trong tứ linh (bốn con vật rất linh thiêng) “Long, Ly, Quy, Phượng”.

Long, Ly và Phượng chỉ là những hình tượng không có thực, gắn liền với văn hóa cung đình, biểu tượng cho uy quyền của nhà vua. Riêng Quy – Rùa là con vật có thực và hình tượng Kim Quy – Rồng Vàng vì thế lại gần gũi hơn, sâu đậm hơn trong đời sống tâm linh của cư dân nông nghiệp.

Theo quan niệm dân gian, không còn gì đẹp hơn hình ảnh Rùa vàng mang trên mình thanh kiếm báu lấp lánh hiện trên mặt hồ trong không gian thanh bình của đất nước. Chính vì thế mà Rùa vàng xuất hiện lấy lại gươm thần đã giúp Lê Lợi chiến thắng giặc Minh đúng lúc đất nước thanh bình vừa hư, vừa thực, vừa gần gũi, vừa kì ảo.

Hình tượng Rùa vàng với kiếm thần cho thấy vẻ đẹp chính nghĩa của chiến thắng Lam Sơn với công lao của người anh hùng Lê Lợi.

Để cung cấp kiến thức phong phú cho bài học, dưới đây xin được  trích dẫn những câu chuyện truyền thuyết có liên quan đến người anh hùng Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

LÊ LỢI VÀ HAI VỢ CHỒNG ÔNG LÃO BẮT CÁ

Bấy giờ Lê Lợi mới nổi lên đánh giặc Minh, quân ít, lương thiếu, mấy lần bị giặc đánh đuổi, quân tướng chạy mỗi người một nơi. Nhưng ông không ngã lòng nản chí.

Một hôm, quân khởi nghĩa bị thua nặng. Một mình Lê Lợi thoát vòng vây, chạy về một xóm kia. Quân Minh đuổi theo rất gấp. Khi chạy qua một lùm cây, Lê Lợi bỗng thấy hai vợ chồng một ông già đang be bờ bắt cá ở ruộng. Ông liền xuống nói với ông lão: “Cụ làm ơn cho tôi bắt cá ở đây. Bọn chó Ngô sắp tới bây giờ”. Ông lão cởi ngay chiếc áo đang mặc ném cho Lê Lợi và ra hiệu bảo ông xuống mà bắt cá.

Lê Lợi vừa thò tay xuống bùn, thì ca to 11 giặc đã xồng xộc chạy tới. Một đứa trong bạn nhìn quanh quanh rồi dừng lại bên đám ruộng: “Này lão kia, có thấy Lê Lợi chạy qua dây không?”. Ông lão lắc đầu: “Từ khi chúng tôi bắt cá ở đây chẳng thấy có người nào chạy qua đây cả”. Trong lúc những tên giặc lục soát các bờ bụi thì Lê Lợi cũng ngẩng đầu lên nhìn theo. Ông lão quát: “Thằng bé kia, mày không bắt cá đi để còn về ăn cơm, nhìn ngó cái gì?”. Lê Lợi biết ý, lại cúi xuống bắt cá như cũ, quân giặc đứng trên bờ tưởng là người nhà ông lão nên chúng không hỏi thêm gì nữa. Một chốc, chúng rút đi nơi khác.

Tối hôm ấy, ông lão đưa Lê Lợi về nhà mình. Một toán quấn khởi nghĩa bị lạc chủ tướng lúc này cũng tìm được đến đây với Lê Lợi. Đây là một thôn miền núi, dân rất nghèo, thường ngày ăn uống kham khổ. Trong nhà ông lão có nuôi một con khỉ rất khôn. Thấy không có gì đãi nghĩa quân, mà đi mua bán thì không giữ được kín tiếng, hai ông bà già bàn nhau giết thịt con khỉ, kho lên cho mọi người làm thức ăn. Riêng Lê Lợi thì có thêm đĩa cá chép vừa bắt lúc chiều. Cơm dọn ra, cả tướng cả quân vừa mệt vừa đói ăn rất ngon lành.

..Sau này, lúc nước nhà khôi phục, Lê Lợi lên ngôi vua, ông sai đại thần mang một mâm vàng bạc về tận nhà ông bà già để tặng. Song bấy giờ cả hai vợ chồng ông lão đều đã chết cả. Lê Lợi bên cùng các quan tới đây làm lễ quốc tế. Cỗ cúng thì rất đơn giản, chỉ một đĩa xôi, một bát thịt khỉ và một đĩa cá chép nướng, đúng như lúc hai vợ chồng ông lão chọn cỗ cho nghĩa quân ăn.

(Theo Truyền thuyết và cổ tích Lam Sơn)

HĂM MỐT LÊ LAI, HĂM HAI LÊ LỢI,

HĂM BA GIỖ MỤ HÀNG DẦU

Trong bao nhiêu trận đánh của Lê Lợi chống lại bọn giặc Minh những ngày đầu khởi nghĩa thì trận đánh ở núi Chí Linh vào tháng 4 năm Hợi (Kỷ Hợi 1419) là gay go nhất. Trận ấy, quân ta bị bao vây ráo riết. Bọn tướng giặc nhất định bắt cho được Lê Lợi, tiêu diệt đầu não của cuộc khởi nghĩa. Quân nhà Minh trùng trùng điệp điệp vây kín trong ngoài, một con chim sẻ bay qua cũng không lọt được. Một

vài viên tướng giỏi nhất của Lê Lợi thì đang ở xa. Mà ở trong vòng vây thì bị hãm lâu ngày, lương thực thiếu thốn, thế trận cũng khó lòng cứu vãn. Lê Lợi liền họp các tướng thân cận còn lại bàn cách đối phó và nói rằng: “Bây giờ ai có thể làm được như Ký Tín ngày xưa, thay ta chịu cho giặc bắt thì mới giải được nguy này. Công đức ấy sau này sẽ có sử xanh ghi chép”.

Lê Lợi nói chưa dứt lời thì một tướng đã đứng ra khảng khái tình nguyện làm việc đó, ấy là Lê Lai, Lê Lai vốn người ở thôn Dựng Tu, sách Đức Giang, huyện Lương Giang. Cả nhà ông đều tham gia nghĩa quân Lam Sơn ngay từ buổi đầu. Lê Lai xin nhận kế hoạch đã định, Lê Lợi còn dùng dằng chưa nỡ thì ông đã quỳ xuống xin nhận lấy áo mũ của chủ tướng; và nhanh chóng hóa trang. Khổ người ông gần bằng Lê Lợi và nét mặt cũng hao hao giống. Cho nên khi ông mang năm trăm quân và hai thớt voi xông ra mặt trận, tự xưng là chúa Lam Sơn thì giặc Minh tin ngay, kéo ở cả lại, bao vây bắt sống cho được ông giải về trại. Chúng đem những hình phạt cực kì tàn ác ra hành hạ ông cho đến chết.

Hôm Lê Lai chết vì nạn nước, trời sầu đất thảm, mưa gió không thôi. Bọn giặc Minh mừng vì đã bắt được thủ lĩnh nghĩa quân nên không chú ý bủa vây như trước. Nhờ đó, Lê Lợi và các tướng khác đã rút được ra ngoài. Lê Lợi vạch gươm lên núi mà thề báo thù cho Lê Lai và nhớ ơn ông mãi mãi.

Lê Lai chết ngày 21. Mười lăm năm sau, Lê Lợi mất vào ngày 22. Ngày ấy ở Thanh Hóa trời đều u ám hoặc có mưa gió. Nhân dân cho là trời đất cũng cảm thông mà nhớ tiếc kẻ anh hùng. Cũng chính vì vậy mà có cấu thành ngữ: Hằm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi. Cung câu chuyện Lê Lai cứu chúa trên đây, nhân dân vùng Ngọc Lặc còn kể tiếp như sau:

Khi Lê Lai bị giặc bắt, chúng đưa ông tới một cái cầu (bây giờ là ở trên phố Châu khoảng hơn một cây số) thì ông đã kiệt sức. Chúng chém chết và bêu đầu ông ở gốc cây đa để uy hiếp tinh thần nghĩa quân và nhân dân, nhưng ngay đêm ấy, nhân dân làng Mơ ở cạnh cầu đã bí mật ra lấy trộm được đầu ông và cả thây (thân người) ông nữa. Họ đưa ông về mai táng ở một chỗ cách đây không đầy 4 cây số, trong một khu rừng rậm rạp. Đêm đưa đám, bất chấp đồn giặc gần kề, nhân dân đã tới rất động, chen chúc nhau khắp cả mặt đường và thôn xóm. Vì vậy, chỗ ấy sau này gọi là làng Chèn. Còn chiếc cầu đã chứng kiến việc lũ giặc hèn hạ giết hại ông cũng được đặt tên là cầu Lai.

 Sau khi dựng nước, Lê Lợi nhớ công ơn của Lê Lai đã phong chức tước cho ông và con cái, lại cho lập đền thờ. Đền thờ Lê Lai nằm trên một bãi cao rộng, đằng trước có hồ nhỏ, đằng sau có lùm cây cổ thụ. Trong đền có voi đá, ngựa đá. Người ta nói rằng trước đây, đền thờ thường có hổ về chầu.

Bà con cũng nói thêm: Sau khi ông bị giặc bắt, họ hàng nhà ông phải trốn tránh tản mát khắp cả huyện Ngọc Lặc. Các cụ già cho rằng họ Lê Đình ở Ngọc Lặc chính là chi phái của Lê Lai, và anh hùng chống Mỹ gần đây là Lê Cấp Bằng (xã Phúc Thịnh) cũng thuộc dòng dõi ấy. | Lê Lợi là người rất có ân tình thủy chung. Không những ông sai làm đền thờ Lê Lai, cấp đất cho con cháu người anh hùng cứu nước. Ông còn ra lệnh cho triều đình sau này phải làm giỗ Lê Lai trước khi giỗ mình. Vì vậy, tuân theo ý nhà vua, nhân dân đã viếng Lê Lai trước khi cúng tế Lê Lợi. Câu thành ngữ “Hắm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” là do đấy.

Dặn dò việc này, Lê Lợi còn nhớ đến bà hàng dầu từng giúp cho nghĩa quân trong những ngày đầu chuẩn bị khởi nghĩa (xem truyện Sự tích núi Dầu). Ông bảo phải làm giỗ mụ hàng đầu ngay sau ngày giỗ ông. Vì vậy mà tiếp theo cấu thành ngữ trên kia, còn có câu “hăm ba giỗ mụ hàng đầu” (…).

Về tên cầu Lai, nhân dân xã Minh Sơn, huyện Ngọc Lặc lại kẻ khác. Người ta nói rằng ở vùng đó, xưa kia có tên là làng Loi. Lại có vô số người bị chết ngất, bất tỉnh nhân sự. Nhưng từ khi trong mường có chàng con trai tên là Lê Lai đi theo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thì cả mường trở nên hoạt bát. Một hôm Lê Lợi và Lê Lai gặp nhau ở đầu chân dốc làng Loi. Hai người cùng cởi áo xuống sông tắm mát. Họ bơi hụp suốt cả buổi làm cho nước suối cạn đi. Trời đương năng lực bỗng đổ một cơn mưa rào, làm cho cả vùng mát rượi. Tắm xong, cả hai người cùng về làng, bà con quay quân quanh họ. Những nét mặt và dáng điệu âu sầu rũ rượi ngày trước biển đi nhanh chóng. Dân Mường tin rằng Lê Lai đã đưa được vị thần nhà trời về. Ai nấy đều một lòng một dạ đi theo Lê Lợi. Vì vậy, về sau người ta gọi làng Lọi là làng Lai, cái cầu bên con suối hai ông tướng Lam Sơn tắm mát cũng được gọi là cầu Lai.

(Theo Truyền thuyết và cổ tích Lam Sơn)

SỰ TÍCH NÚI DẦU

Núi Dầu nằm bên phải đường 15, cách phà Mục Sơn khoảng hai cây số. Đó là một ngọn núi trọc, thấp, màu nâu đỏ, trông xa như một chiếc bát khổng lồ úp xuống.

 Hồi ấy, trên đường đến Lam Sơn tìm gặp Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn giả dạng anh hàng đầu. Tới Lam Sơn, Trần | Nguyên Hãn giấu hai thùng dầu ở núi này rồi đến ra mắt Lê Lợi.

Được tin dùng, hai ông Trần, Nguyễn lao vào công việc, quên không để ý gì đến hai thùng dầu ấy nữa.

 Do mưa gió lâu ngày, hai thùng dầu đổ chảy lênh láng thành hai vệt, dầu ngấm vào lau sậy. Vì thế lau sậy ở đây tươi tốt, đun nấu ngay vẫn cháy rất đượm. Dầu ngấm ra cả quả đồi, đất đồi dần dần quánh | đỏ như có trộn dầu. Trừ lau sày, các cây khác đều chết cả. Nui Dầu có tên là như thế.

Có người cũng kể tương tự như trên, nhưng lại nói không phải Trần Nguyên Hãn để quên thùng dầu mà chính Lê Lợi đặt tên cho quả núi là núi Dầu để ghi nhớ ngày gặp gỡ với hai chàng bán dầu trở thành trụ cột của phong trào khởi nghĩa.

Lại có người giải thích sự tích núi Dầu hoàn toàn khác hẳn. Khi Lê Lợi kêu gọi mọi người hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, ông đã tìm ra một ngọn núi, đêm đêm đốt ở đó ngọn đèn, gọi là ngọn đèn chiếu quân. Ngọn đèn chiếu quân thắp suốt đêm này qua đêm khác để cho khách tứ phương biết hướng mà lân lên Lam Sơn tự nghĩa. Dầu thắp ở đây và trong trại rất nhiều và rất cần, nhưng Lê Lợi bí mật chỉ mua dầu của một người đàn bà mà thôi. Mụ hàng dâu này giàu lòng yêu nước, ngày ngày gánh dấu tiếp tế cho nghĩa quân hàng ba bốn chuyển. Lũ giặc Minh dần dần để ý và bắt mụ tra khảo. Mụ không hề hé răng nói nửa lời. Cuối cùng mụ bị giặc Minh giết hại.

Biết ơn người đàn bà bán dâu đã trung thành với nghĩa quân, lại nhớ đến ngọn đèn khai sinh cho ngày khởi nghĩa, Lê Lợi đặt tên quả núi ấy là núi Dầu và ra lệnh làm giỗ mụ hàng đầu sau hôm giỗ mình một ngày. Vì thế về sau có câu “Hắm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, hăm ba giỗ mụ hàng đầu”.

Lại có người kể, ngọn núi này không phải là núi Dầu mà là núi Giầu. Là vì, khi được tin 18 nghĩa sĩ hội thể ở Lũng Nhai, chiêu tập hào kiệt bốn phương, thì nhân dân các vùng quanh đó rất hào hứng. Họ đem tiền, gạo, trâu bò, gà lợn, giáo mác đến giúp nghĩa quân. Của cải các nơi đem đến đêm ngày, chất đầy cả núi. Lê Lợi phấn khởi trong lòng, liền đặt tên quả núi ấy là núi Giấu, tỏ ý khen ngợi nhân dân giàu lòng yêu nước.

 Lê Huy Trâm – Lê Bá Thai (Sưu tầm)

(Theo Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn,

Sở Văn hóa và Thông tin Thanh Hóa, 1985)

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa