Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Bánh Chưng, bánh Giầy

img

Hướng dẫn soạn văn 6 – soạn bài Bánh Chưng, bánh Giầy – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 6 | Soạn văn lớp 6 | Soạn văn 6 Bài 1 | Soạn bài Bánh Chưng, bánh Giầy  | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 6 soạn bài Bánh Chưng, bánh Giầy
Soạn văn 6 soạn bài Bánh Chưng, bánh Giầy

Đọc lại lí thuyết về truyền thuyết ở bài học trước (trang 7).

1. Câu hỏi 1 SGK trang 12
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc lại đoạn văn: “Hùng Vương lúc về già… nhân dân đều no ấm”, cần nắm được hoàn cảnh vua muốn truyền ngôi, cách thức truyền ngôi.

b. Gợi ý trả lời

Vua Hùng muốn truyền ngôi trong hoàn cảnh giặc ngoài đã dẹp yên, nhân dân đều no ấm, vua đã nhiều tuổi. Ý của vua là: “Người nổi ngôi ta phải nối được chí ta, không nhất thiết phải là con trưởng”.

Việc chọn người nổi ngôi kế vị cho thấy vua Hùng là một vị vua anh minh, sáng suốt trong việc chọn người. Mục đích của vua Hùng chọn người nối ngôi phải là người hiền tài, đem lại sự ấm no cho dân nên người đó không nhất thiết phải là con trưởng. | Vì vậy, vua đã ra một câu đố đặc biệt để chọn người tài: “Năm nay, nhân lễ Tiên Vương, ai làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho”.

c. Mở rộng kiến thức

Hình thức ra câu đố rất phổ biến trong truyện dân gian (Em bé thông minh, Ba sợi tóc vàng của con quỷ, Truyện Trạng Quỳnh…). Dùng câu đố để thử tài năng, trí tuệ và sự sáng tạo của các nhân vật. Có những trường hợp nhân vật tự giải đổ được các câu đố, có trường hợp nhân vật được các lực lượng thần tiên giúp đỡ, chỉ ra cách thức giải đố. Những nhân vật này thường là người tốt, người thiệt thòi và bị áp bức như anh Khoại (Anh trai cày bà lão nhà giàu), Lang Liệu (Bánh chưng, bánh giầy…).

Mặc dù việc truyền ngôi cho con trưởng đã trở thành một thông lệ của chế độ phong kiến nhưng trong thực tế, lịch sử Việt Nam, có không ít những ngoại lệ. Vua Trần Anh Tông, Lê Thánh Tông, Minh Mạng,… đều không phải là con trưởng nhưng đều là những vị vua anh minh, có nhiều chính sách tiến bộ suốt thời gian trị vì. Rõ ràng, tự tưởng chọn người tài đức kế vị, không phân biệt trưởng thứ đã có từ thời Hùng Vương, điều mà ta có thể đọc thấy trong truyền thuyết Bánh chưng, bánh giây và đã được duy trì, tiếp nối trong dòng lịch sử những giai đoạn về sau.

2, Câu hỏi 2 SGK trang 12
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc lại đoạn văn: “Người buồn nhất là Lang Liêu… lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương”.

b. Gợi ý trả lời

Trong số hai mươi người anh em, chỉ có Lang Liêu được thần giúp đỡ, vì chàng là người thiệt thòi nhất” và chăm chỉ lao động nhất. Lang Liêu cũng có nguồn gốc cao quý như các anh em khác của mình, nhưng chàng mồ côi mẹ từ khi còn nhỏ. Chàng sớm ra ở riêng và chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai như một người nông dân bình thường.

Điều đặc biệt, Lang Liêu là người duy nhất trong số các anh em thấu hiểu được giá trị của hạt gạo và hiểu được ý của thần: “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Chỉ có gạo mới nuôi sống con người và ăn không bao giờ chán. Các thứ khác tuy ngon, nhưng hiếm, mà người không làm ra được. Còn lúa gạo thì mình trồng lấy, trồng nhiều được nhiều…”.

Theo lời mách bảo của thần, Lang Liệu đã lấy gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, lá dong trong vườn… – đều là những thứ do chính bàn tay chàng làm ra để làm bánh dâng vua trong ngày lễ Tiên vương.

3. Câu hỏi 3 SGK trang 12
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc lại đoạn văn: “Bánh hình tròn là tượng Trời… xin Tiên vương chứng giám”. Đồng thời đọc phần chú thích (13), (14) trong SGK để nắm được ý nghĩa tượng trưng của hai thứ bánh.

b. Gợi ý trả lời

| Hai thứ bánh do Lang Liêu làm ra có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc: tượng Trời, tượng Đất, tượng muôn loài. “Bánh hình tròn là tượng Trời”. “Bánh hình vuông là tượng Đất, các thứ thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú”. Ngoài ra lá bọc ngoài còn tượng trưng cho sự đùm bọc lẫn nhau. Trong truyện, thần chỉ báo mộng gợi ý cho Lang Liêu về sự quý giá của hạt gạo. Còn cách chế biến, tạo hình cho bánh là sáng tạo của Lang Liêu. Chắc hẳn, không phải ngẫu nhiên mà chàng chọn hình vuông, hình tròn cho hai loại bánh, chọn đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn gói ngoài… mà đó phải là sau nhiều đêm suy nghĩ trằn trọc và thử nghiệm. Bánh trưng bánh dây như hiện nay ta thấy rất đẹp, cân đối và hài hòa về màu sắc và hình dáng, hương vị lại thơm ngon, đặc biệt.

Hai thứ bánh đó là sự kết hợp từ những thứ quý giá nhất của trời đất, đồng ruộng của nghề nông, và quan trọng nhất là sản phẩm do chính con người tạo ra có giá trị lâu bền mãi mãi.

Do vậy, lễ vật của Lang Liêu hợp với ý Vua đã được đặt tên, chọn làm lễ tế Tiên vương, và chàng được chọn làm người kế vị ngôi vua.

Đoạn cuối truyện, khi vua cha phân tích ý nghĩa tượng trưng của bánh, rồi khẳng định “Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp với ý ta”, chúng ta sẽ hiểu hơn sự sáng tạo, tầm suy nghĩ của Lang Liêu. Chàng không chỉ là một người hay lam, hay làm mà còn có những suy nghĩ về đất nước, về cuộc sống của nhân dân, muôn loài. Đó mới chính là phẩm chất cần có của một người lãnh đạo nhân dân. Việc nối ngôi của Lang Liêu là xứng đáng, không phải là sự may mắn ngẫu nhiên.

4. Câu hỏi 4 SGK trang 12
a. Hướng dẫn tìm hiểu

Đọc kĩ phần Ghi nhớ trong SGK. Dựa vào phần kiến thức đã học trong bài (về hình tượng Lang Liêu; về ý nghĩa tượng trưng của các loại bánh…) để nhận thức đầy đủ ý nghĩa của văn bản này.

b. Gợi ý trả lời

Truyền thuyết Bánh chưng, bánh giây trước hết nhằm giải thích nguồn gốc một phong tục đẹp của dân tộc, tục làm bánh chưng, bánh giầy

cúng tổ tiên ngày Tết, trên cơ sở thái độ tin cho nghề nông, lề cho lao động, đồng thời thể hiện sự tôn kính trời, đất, tổ tiên của nhân dân ta.

Theo cách giải thích của truyện, tục làm bánh chưng, bánh giầy gắn với tên tuổi Lang Liêu. Thông qua nhân vật chính này, với những chi tiết kì ảo (Lang Liêu được thần giúp đỡ…), tác giả đã thể hiện thái độ bênh vực người thiệt thòi, ủng hộ người lao động chân chính và niềm tự hào về những thành tựu nông nghiệp của dân tộc trong buổi đầu dựng nỚC.

c. Mở rộng kiến thức

Trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam, có một bộ phận được sáng tác nhân giải thích nguồn gốc các sự vật hay phong tục trong cuộc sống: Sự tích trầu cau giai thích tục ăn trầu của người Việt; truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh giải thích hiện tượng lũ lụt và truyền thống đáp đề phòng lũ của dân tộc… Bên cạnh mục đích đó, truyện bao giờ cũng còn là nơi gửi gắm những tư tưởng hay ước mơ một thời của đông đảo nhân dân.

Tư liệu tham khảo 

Dưới đây là những bài tham khảo bổ sung kiến thức cho bài học.

Đều là anh hùng văn hóa thời Hùng Vương dựng nước, nhưng nếu An Tiêm là người tìm ra giống dưa quý trên đảo hoang thì Lang Liêu lại là người sáng tạo ra loại bánh kem đến hương vị đậm đà thiêng liêng cho ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Một người, do bị đầy ra đảo mà phát hiện được đưa quý; một người, do hoàn cảnh khó khăn mà nghĩ ra cách làm bánh ngon. Người nhờ chim đánh rơi miếng mồi, người nhờ thân báo mộng. Nhưng nếu không có bàn tay, khối óc, nghị lực và niềm tin thì An Tiêm cũng không tìm ra được quả quý cho đời, và bánh của Làng Liệu làm sao được chọn để lễ Tiên vương? Bánh ấy đã đi vào phong tục dân gian và sự tích Bánh chưng, bánh giầy gắn liền với một cái tên đẹp một người sáng tạo văn hóa… Bánh đã được đích thân vua Hùng đặt tên một cách trang trọng giữa triều đình cùng với lời truyền ngôi cho Lang Liêu… Bánh chưng, bánh giầy đã làm cho “nước ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi” và đi vào phong tục Tết Việt Nam từ những ngày ấy. Cho nên tìm về sự tích Bánh chưng, bánh giầy không chỉ tìm về nguồn gốc những thứ bánh trong ngày Tết cổ truyền, mà chính là tìm về hồn thiêng dân tộc. Hương vị quê hương đất nước, ý chí của cha ông đọng lại trong câu chuyện dồi dào ý nghĩa này.

(Phân tích – bình giảng tác phẩm văn học 6)

Trong cuốn sách Kho tàng truyện cổ tích, tập 1, 1972, Nguyễn Đổng Chi có viết: “Bánh chưng, bánh giầy chẳng những là ngon và quý mà còn mang nhiều ý nghĩa đặc biệt: nó bày tỏ lòng hiếu thảo của người con, tôn cha mẹ như trời đất. Nó chứa đầy một tấm lòng đối với quê hương, ruộng đồng. Nó rất dễ làm vì làm bằng những hạt ngọc quý nhất trong những hạt ngọc của trời, đất, nhưng những hạt ngọc ấy mọi người đều làm ra được. Phải là người tài mới nghĩ ra loại bánh đó”.

 Trong bài Mùa xuân và phong tục, 1976 Giáo sư Trần Quốc Vượng viết về món ăn cổ truyền của người Nhật, người Trung Quốc, và người Việt Nam ta như sau:

“Mỗi dân tộc đều có những món ăn đặc sắc, chủ yếu, dành cho ngày Tết mà thiếu thì có thể coi như hương vị Tết sẽ nhạt nhẽo đi nhiều. Trong bữa cơm Tết của người Nhật Bản thể nào cũng có món mì ống và bánh quy bằng bột gạo. Họ quan niệm mì ống tượng trưng cho tuổi thọ, còn bánh quy nói lên sự giàu có. Người Trung Quốc | thiếu bánh niên cao, mần thầu hoặc bánh chèo chứ thì chưa thể gọi là một cái Tết đầy đủ… Trong các loại bánh Tết Việt Nam, đứng đầu là bánh chưng”.

Truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy từ lâu đã đi vào tâm linh của người Việt Nam ta. Từ trẻ em đến các cụ già đều biết đến sự tích này. Tích truyện đã trở thành đề tài cho nhiều nhà thơ sáng tác. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi khi đi qua mảnh đất lịch sử (Vĩnh Phú – có đến thờ Vua Hùng) đã nhớ về cội nguồn dân tộc, nhớ về một thời lịch sử hào hùng, ông đã viết nên bài thơ lục bát bằng thể thơ dân tộc Qua Thậm Thình thật đặc sắc. Dưới đây là những câu thơ hay trong bài:

Đi qua xóm núi Thận: “}ình. Bâng khuâng nhớ nước non mình nghìn năm

Vua Hùng một sáng c sin Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này

Dân dâng một quả xôi đây Bánh chưng mấy cặp, bánh giầy mấy đôi.

Ngày nay đọc những câu thơ này, ta lại thấy vang vọng đâu đây về một thời kì lịch sử hào hùng, một thời kì vàng son của dân tộc gắn với các vua Hùng dựng nước và giữ nước.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa