Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)

Hướng dẫn soạn văn 12 – soạn bài Số phận con người (M. Sô-lô-khốp) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 12 | Soạn văn lớp 12 | Soạn văn 12 Tuần 27 | Soạn bài Số phận con người (M. Sô-lô-khốp) | Tài Liệu Chùa

Đọc – Hiểu VĂN BẢN

Tác giả

Mi-khai-in A-lếch-xan-đrô-vích Sô-lô-khốp (1905 – 1984) là nhà văn Xô Viết lỗi lạc, được vinh dự nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1965. Các tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Là một nhà tiểu thuyết có tài, Sô-lô-khốp được liệt vào hàng các nhà văn lớn nhất thế kỉ XX.

Sô-lô-khốp sinh tại thị trấn Vi-ô-sen-xcai-a thuộc tỉnh Rô-xtốp trên sông Đông. Năm 1926, ở tuổi 21, Sô-lô-khốp in hai tập truyện ngắn là Truyện sông Đông và Thảo nguyên xanh. Năm 1925, ông bắt tay viết tác phẩm tâm huyết nhất của đời mình, đó là tiểu thuyết Sông Đông êm đềm và đã hoàn thành vào năm 1940, gồm 4 quyển, 8 phần. Cuốn tiểu thuyết đã được trao Giải thưởng quốc gia, với lời chào đón nồng nhiệt của nhà văn lão thành A.Xê-ra-phi-mô-vích đối với tài năng trẻ Sô-lô-khốp: “…con đại bàng non tung cánh trong bầu trời văn học”. Sô-lô-khốp là đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô từ 1932. Năm 1939, ông được bầu làm Viện sĩ Viện hàm lâm Khoa học Liên Xô. Trong thời gian chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược, Sô-lô-khốp theo sát Hồng quân trên nhiều chiến trường với tư cách phóng viên báo Sự thật.

Tác phẩm

Truyện ngắn Số phận con người (1957) của Sô-lô-khốp là cột mốc quan trọng mở ra chân trời mới cho văn học Xô Viết. Dung lượng tư tưởng lớn của truyện khiến có người liệt nó vào loại tiểu anh hùng ca. Tác phẩm thể hiện cái nhìn cuộc sống, chiến tranh một cách toàn diện, chân thực; sự đổi mới về mô tả nhân vật, khám phá tính cách Nga, khí phách anh hùng và lòng nhân hậu của người lính Xô Viết. Sự thật tảo bạo bao trùm toàn bộ tác phẩm của Sô-lô-khốp. Sự thật đó được tôn trọng trong từng câu văn, từng chi tiết, từng hình ảnh. Sô-lô-khốp dám nói lên sự thật dù đôi khi khắc nghiệt, cay đắng. Ông coi sứ mạng cao cả nhất của nghệ thuật là “ca ngợi nhân dân – người lao động, nhân dân, người xây dựng, nhân dân “anh hùng” của mình”.

Đoạn trích học trong sách giáo khoa là phần cuối cùng kết thúc truyện.

Đọc văn bản

Văn bản không dài lắm (5 trang), cần đọc vài lần để nắm được mạch truyện và có cảm nhận ban đầu về hai nhân vật: anh lái xe Xô-cô-lốp và chú bé Va-ni-a. Sau đó, đọc kĩ đoạn Xô-cô-lốp gặp bé Va-ni-a và nhận bé làm con. (Chú ý các chi tiết gợi cảm về hai nhân vật này). Trước khi đọc văn bản, cần xem kĩ tóm tắt phần đầu truyện để hiểu được cuộc đời và số phận nhân vật Xô – cô – lốp, từ đó có thể hiểu sâu sắc hơn đoạn trích (phần cuối tác phẩm).

Tìm hiểu tác phẩm (đoạn trích)

Hoàn cảnh và tâm trạng của An-đrây Xô-cô-lốp sau khi chiến tranh kết thúc và trước khi gặp bé Va-ni-a.

– a) Về hoàn cảnh: Có thể xem tóm tắt phần đầu truyện trong sách giáo khoa (nếu có điều kiện, tìm đọc toàn văn tác phẩm Số phận con người để hiểu rõ hơn hoàn cảnh của nhân vật). Dưới đây là những nét chính.

Sau khi chiến tranh kết thúc, An-đrây Xô-cô-lốp rơi vào một hoàn cảnh thật đáng thương do những mất mát của chiến tranh mang lại – cho dù đó là một cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô chống phát xít Đức:

– Bản thân anh hai lần bị thương vào tay và chân; tiếp đó là hai năm bị đày đọa trong các trại tù binh Đức với những cực hình vô nhân đạo mà mỗi lần nghĩ tới thì tim tôi không còn trong lồng ngực nữa mà nhảy lên đập ở cuống họng và tôi thấy ngạt thơ”.

– Vợ và hai con gái anh bị bom phát xít giết hại từ giữa năm 1942.

– Niềm hi vọng cuối cùng giúp anh bám víu vào cuộc đời này là Ana-tô-li, đứa con trai yêu quý, đại úy pháo binh đang cùng anh tiến đánh Béc-lin. Hi vọng cuối cùng đó cũng bị dập tắt: “Đúng sáng ngày mồng chín tháng năm, ngày Chiến thắng, một thằng thiện xạ Đức đã giết mất A-na-tô-li của tôi…”.

Thế là hết. Chỉ còn lại một mình anh trơ trọi trên cuộc đời này. Vì độc lập dân tộc và sự sống còn của nhân dân, An-đrây Xô-cô-lốp đã chịu đựng những mất mát ghê gớm. Và không chỉ riêng anh, mà nhân dân Liên Xô cũng vậy. Để chiến thắng phát xít Đức, 25 triệu người Xô Viết, non một phần mười dân số thời đó, đã hi sinh. Chỉ có khoảng ba phần trăm thanh niên từ mặt trận trở về. Như vậy, có thể nói hoàn cảnh của An-đrây Xô-cô-lốp trong truyện ngắn này là khá tiêu biểu, mang ý nghĩa điển hình. (Và cả hoàn cảnh của bé Va-ni-a sau chiến tranh cũng như vậy: bố mẹ đều chết, em không còn nơi nương tựa,…).

b) Về tâm trạng:

Trước những mất mát tưởng như quá sức chịu đựng của con người: “Tôi đã chôn trên đất người, đất Đức, niềm vui sướng và niềm hi vọng cuối cùng của tôi”, An-đrây Xô-cô-lốp cảm thấy cuộc đời như không còn gì nữa, tâm trạng trống rỗng, hụt hẫng, cô đơn: “Trong người tôi như có cái gì đó vỡ tung ra… Tôi trở về đơn vị mình như người mất hồn”. Và khi được giải ngũ thì cũng không biết về đâu, vợ con chết cả, ngôi nhà chỉ còn là một hố bom. Anh đành tìm đến U-riu-pin-xcơ để nương nhờ một người bạn.

– Trong hoàn cảnh và tâm trạng như vậy, nếu thiếu nghị lực và bản lĩnh thì con người sẽ thế nào? Đấy mới là thử thách đối với người lính Xô Viết sau chiến tranh. Và An-đrây Xô-cô-lốp đã vượt qua được, không chỉ cho riêng số phận mình, mà còn cưu mang cho cả số phận bất hạnh của chú bé Va-ni-a mà anh đã nhận làm con nuôi của mình.

An-đrây Xô-cô-lốp nhận bé Va-ni-a làm con nuôi, sự kiện đó tác động lớn lao đối với cả hai cha con như thế nào?

Va-ni-a là chú bé chừng năm, sáu tuổi, trong con mắt An-đrây Xô-cô-lốp: “[…] thằng bé rách bươm xơ mướp. Mặt mũi thì bê bết, lem luốc, bụi bặm, bẩn như ma lem, đầu tóc rối bù, nhưng cặp mắt – cứ như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm!”. Những chi tiết sự xót thương và lòng yêu mến của An-đrây Xô-cô-lốp đối với chú bé. Nét nổi trội nhất ở chú bé khiến An-đrây Xô-cô-lốp xúc động, là sự thơ ngây, tội nghiệp, không nơi nương tựa, mồ côi cả cha lẫn mẹ “ai cho gì thì ăn nấy”, “bạ đâu ngủ đó”.

Không phải ngẫu nhiên An-đrây Xô-cô-lốp ba lần dùng hình ảnh con chim để nói về chú bé và ví chú với “con dê con”, “ngọn cỏ trước gió”.

Người lớn không thể không đau lòng khi đứa trẻ bị tước mất sự ngây thơ. An-đrây Xô-cô-lốp cảm thấy nhói đau trong tim vì tiếng thở dài của bé Va-ni-a. “Một con chim còn non nớt như thế mà học thở dài ư? Đấy đâu phải việc của nó?”. Lo nghĩ, thở dài, buồn bã là việc của người lớn. Trẻ con phải luôn cười đùa, nhí nhảnh, vui tươi chứ sao lại im lặng và thở dài? An-đrây Xô-cô-lốp không nên được xúc động, anh cũng không muốn che giấu xúc động: “Những giọt nước mắt nóng hổi sôi lên ở mặt tôi và lập tức tôi quyết định: “Không thể để cho mình với nó chìm nghỉm riêng rẽ được! Mình sẽ nhận nó làm con. Ngay lúc ấy, tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhõm và bừng sáng lên”.

Hai trái tim cô đơn lạnh giá bất chợt ấm lên vì được chụm lại bên nhau. Họ sẽ nương tựa vào nhau, sưởi ấm tâm hồn nhau bằng tình người ấm áp. Cả hai đều choáng váng: “Nó áp sát vào người tôi, toàn thân cứ run lên như ngọn cỏ trước gió. Còn mắt tôi thì cứ mờ đi, cả người cũng run lên, hai bàn tay lẩy bẩy…”.

Hai vợ chồng bác chủ nhà không có con hết sức đồng tình với việc làm nhân ái, cao thượng của An-đrây Xô-cô-lốp và xúc động chia sẻ niềm vui với anh: “Bà chủ múc xúp bắp cải vào đĩa cho nó, rồi đứng nhìn nó ăn ngấu nghiến mà nước mắt ròng ròng. Bà đứng cạnh lò sưởi lấy tạp dề che mặt khóc”. Đọc đoạn văn tiếp theo, ta dễ dàng nhận ra sự săn sóc chí tình của An-đrây Xô-cô-lốp đối với Va-ni-a. Nhưng ở đây, tác giả đã khéo nhấn mạnh sự vụng về của người đàn ông để làm nổi bật tình thương bộc trực, mộc mạc của An-đrây Xô-cô-lốp đối với bé Va-ni-a.

Do đã quên bản thân mình và nỗi khổ của mình, đem tình thương ấp ủ bé Va-ni-a côi cút, An-đrây Xô-cô-lốp có được niềm vui bất ngờ: “Tôi thức giấc, thấy nó rúc vào nách tôi như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ, tôi thấy lòng vui không lời nào tả xiết!”, “Đêm đêm khi thì nhìn nó ngủ, khi thì thơm mái tóc xù của nó, trái tim tôi đã suy kiệt, đã bị chai sạn vì đau khổ, nay trở nên êm dịu hơn…”. Sung sướng biết bao khi lòng nhân ái có thể giúp cho trái tim con người không chai đá trước khổ đau mà êm dịu tình người. Chính lòng nhân ái cũng giúp cho hai con người côi cút có thể vượt qua sự cô đơn.

Trên kia chúng ta đã nói tới tâm hồn ngây thơ của bé Va-ni-a. Am hiểu tường tận tâm hồn trẻ thơ, Sô-lô-khốp đưa ra thêm một chi tiết nữa để nói lên sự thơ ngây đó. Đấy là chi tiết cái áo bành tô bằng da: “Bố ơi, cái áo bành tô bằng da của bố đâu rồi?”. Một chi tiết bừng lóe trong kí ức đứa trẻ. Nó nhớ lại chiếc áo bành tô bằng da mà bố đẻ nó. từng mặc. Sô-lô-khốp chỉ rõ sự yếu ớt ngắn ngủi của kí ức đó: “Trí nhớ trẻ con cứ như quầng sáng mùa hạ, soi sáng tất cả trong chốc lát rồi vụt tắt”. Nhưng dù thế nào thì cái chi tiết quan trọng mà chú bé nhớ lại (bố nó từng mặc chiếc bành tô bằng da) cũng hằn lên trong tâm trí chú như một thắc mắc. Để giải đáp thắc mắc này, An-đrây Xô-côlốp “phải đánh trống lảng” để khỏi ảnh hưởng đến tâm hồn ngây thơ của bé Va-ni-a “có cặp mắt xanh như da trời”, long lanh “như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm”. Anh đã nén nỗi đau riêng để đem lại niềm vui cho chú bé. Giờ đây anh lại chịu đựng tất cả gánh nặng mất mát để cho tâm hồn ngây thơ của bé Va-ni-a được thanh thản.

Điểm nhìn của nhân vật An-đrây Xô-cô-lốp hoàn toàn trùng khớp với điểm nhìn của tác giả: “Cái chính ở đây là phải biết kịp thời quay mặt đi. Cái chính ở đây là đừng làm tổn thương trái tim em bé, đừng để cho em thấy những giọt nước mắt đàn ông hiếm hoi nóng bỏng lăn trên má anh”. Cái chính ở đây là phải tổ chức cuộc sống như thế nào để trẻ em được sung sướng, hạnh phúc; phải chăm sóc cho bao đứa trẻ bất hạnh vì chiến tranh.

An-đrây Xô-cô-lốp đã vượt lên nỗi đau và sự cô đơn như thế nào?

Sô-lô-khốp là một nhà văn hiện thực nghêm khắc. Ông mô tả cuộc đời đúng như nó hiện có, không tô vẽ, cũng không giảm nhẹ những khó khăn mà An-đrây Xô-cô-lốp phải vượt qua. An-đrây Xô-cô-lốp vẫn phải lo kiếm kế sinh nhai. Ở vào tuổi 46, anh vẫn tự mình xoay xở giữa đời thường đầy những eo sèo. Câu chuyện xe ô tô của anh quệt phải con bò chứng tỏ điều đó: “Con bò đứng dậy, ve vẩy đuôi rồi chạy vào ngõ hẻm, còn tôi thì bị tước bằng lái”. Nụ cười hóm hỉnh vẫn để lại một dư vị chua chát!

Thế là anh lại phải ra đi. Phiêu bạt là số kiếp của anh. Đau khổ khiến anh ngồi không yên ổn, ở không vững vàng: “Nỗi đau buồn không cho tôi ở lâu mãi một chỗ được”. Sự xê dịch, những cảnh đời khác lạ ở các phương trời khác nhau có lẽ sẽ giúp nhanh chóng hàn gắn vết thương lòng còn rỉ máu trong anh.

Qua đôi ba lời ít ỏi ta hiểu rằng ngay thể chất anh cũng yếu đi nhiều: “trái tim tôi đã suy kiệt, đã bị chai sạn vì khổ đau…”, “nhưng mà quả tim của tôi đã rệu rã lắm rồi, đến phải thay pít-tông thôi… Có khi tự nhiên nó nhói lên, thắt lại, và giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi. Tôi chỉ sợ lúc nào đó đang ngủ mà tôi chết luôn làm con trai tôi phải khiếp sợ”.

Nỗi đau ám ảnh An-đrây Xô-cô-lốp không dứt. Tất cả còn nóng hổi, quá mới mẻ. Anh phải chịu đựng đau khổ như một con người bình thường. Không chút lên gân, anh thành thật tâm sự: “Và đây là một điều rất kì lạ: ban ngày bao giờ tôi cũng trấn tĩnh được, không hở ra một tiếng thở dài, một lời than vãn, nhưng ban đêm thức giấc thì gối ướt đẫm nước mắt”. Ngoài ý muốn của con người kiên cường đó, anh đã khóc trong mơ. Biết như vậy ta càng quý trọng anh vì anh đã cứng cỏi nuốt thầm giọt lệ để cho bé Va-ni-a không phải khóc.

Thái độ của người kể chuyện. Ý nghĩa lời trữ tình ngoại đề ở cuối truyện.

Truyện ngắn Số phận con người được xây dựng theo lối truyện lồng trong truyện. Ở đây có hai người kể chuyện. Người thứ nhất là An-đrây Xô-cô-lốp, người thứ hai là tác giả, người thuật lại câu chuyện của Xô-cô-lốp.

Người kể chuyện phải khuôn theo cách nói năng, tâm tính, giọng điệu, tâm trạng của Xô-cô-lốp, qua đó trực tiếp bộc lộ tính cách của nhân vật này. Trên kia ta đã phân tích nhiều nét tính cách của Xôcô-lốp. Ở đây ta nói thêm về cách nói bỗ bã, xen nhiều từ ngữ bình dân và thuật ngữ nghề nghiệp của người lái xe: chả mấy chốc, uống li rượu lử người, chìm nghỉm, tước bằng lái… Đồng thời ta cũng thấy rõ thái độ tin cậy, cởi mở, có phần hồn nhiên, bộc trực, dễ xúc động của An-đrây Xô-cô-lốp, một người lao động, khi dốc bầu tâm sự.

Người kể chuyện còn trực tiếp miêu tả bối cảnh và thời gian gặp gỡ nhân vật chính, khung cảnh thiên nhiên, chân dung các nhân vật, những ấn tượng và đánh giá về các nhân vật đó.

Sô-lô-khốp không che giấu thiện cảm đặc biệt đối với An-đrây Xôcô-lốp, “người khách lạ đã trở thành thân thiết” đối với mình. Nhà văn xúc động mãnh liệt trước số phận con người: “Với một nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con”.

Thái độ của người kể chuyện thể hiện trong tất cả các biện pháp nghệ thuật vừa nêu. Thái độ đó được đúc kết trong đoạn trữ tình ngoại đề ở cuối truyện: “Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ… Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước? Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường, sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường nếu như Tổ quốc kêu gọi”.

Qua đoạn trích này, Sô-lô-khốp nghĩ gì về số phận con người? .

Câu này, anh (chị) tự suy nghĩ để trả lời (có thể trao đổi thêm trong nhóm học tập).

Cuối cùng, đọc kĩ và học thuộc hai điều Ghi nhớ trong SGK về bài học.

LUYỆN TẬP

Tìm cái mới của truyện ngắn Số phận con người trong việc miêu tả cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô.

Gợi ý:

– Cách nhìn chiến tranh đúng đắn, cách miêu tả chiến tranh mới mẻ:

+ Sô-lô-khốp dũng cảm nói lên sự thật, không sợ màu sẫm và gai góc.

+ Sô-lô-khốp miêu tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó, trong “đau khổ, chết chóc, máu me” (lời L.Tôn-xtôi).

+ Nhà văn đã khám phá chiều sâu chiến công hiển hách của nhân dân Xô Viết trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại qua số phận một người lính bình thường, một anh binh nhì trong Hồng quân, đại diện của hàng triệu người lính gánh trên vai toàn bộ gánh nặng của cuộc chiến. Chiến tranh đã cướp đi của anh tất cả, nhưng người lính ấy vẫn đủ nghị lực và bản lĩnh để sống – không chỉ cho mình mà còn cho cả bé Va-ni-a bất hạnh. Đó là người anh hùng vô danh, là chiến sĩ kiên cường với một trái tim nhân hậu. Chiều sâu của chiến công hiển hách đó nằm ngay trong phẩm chất sáng ngời của những người lính bình thường nhất, cả trong thời chiến cũng như thời bình.

– Tài nghệ của tác giả trong truyện ngắn này cũng có những nét đặc sắc:

+ Cách kể chuyện, tả cảnh, chọn lọc chi tiết gợi cảm và hàm chứa ý nghĩa.

+ Cách vẽ chân dung và dõi theo tâm trạng nhân vật trong các tình huống.

+ Thái độ, tình cảm của tác giả khi kể chuyện, đặc biệt là lời trữ tình ngoại đề.

Viết một đoạn văn về cuộc sống trong tương lai của hai bố con An-đrây Xô-cô-lốp. Bài này anh (chị) tự làm theo suy nghĩ và tưởng tượng của mình, sao cho nó tiếp nối một cách lôgíc, tự nhiên với phần cuối của truyện ngắn này.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa