Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

Hướng dẫn soạn văn 12 – Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 12 | Soạn văn lớp 12 | Soạn văn 12 Tuần 22 | Soạn bài Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) | Tài Liệu Chùa

 

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Tác giả

Xem SGK. Về tác giả Nguyễn Trung Thành, cần chú ý các điểm sau:

– Có thể xem Nguyễn Trung Thành (tức Nguyên Ngọc) là nhà văn có sở trường viết về vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ, thơ mộng và anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam: ông am hiểu kĩ về vùng đất, phong tục, tập quán và con người Tây Nguyên mà ông từng yêu mến, gắn bó trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông đã viết về những con người ấy với lòng trân trọng, cảm phục: trong kháng chiến chống Pháp là tiểu thuyết Đất nước đứng lên, và trong kháng chiến chống Mĩ là truyện ngắn Rừng xà nu – cả hai đều được xem là những đỉnh cao của văn học hiện đại.

– Cùng với Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Phan Tứ, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng,… Nguyễn Trung Thành thuộc thế hệ những nhà văn – chiến sĩ được đào luyện trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, mang những phẩm chất mới và hết lòng phục vụ hai cuộc kháng chiến đó bằng ngòi bút chiến đấu của mình, đúng như câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. (Mặt trận văn hóa nghệ thuật – NBS).

– Truyện của Nguyễn Trung Thành có lối viết trong sáng, chặt chẽ, ngôn ngữ đẹp, giàu chất sống hiện thực nhưng lại có tầm khái quát cao, đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn – tất cả đã tạo nên sức cuốn hút và hấp dẫn đối với người đọc. Một số tác phẩm của ông đã gây ấn tượng mạnh và để lại dấu ấn lâu bền trong nhiều thế hệ độc giả (Đất nước đứng lên đã được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh và dựng thành phim).

Tác phẩm

Xuất xứ:

Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965, ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ (số 2 – 1965), sau đó in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyễn Trung Thành viết trong những năm chống Mĩ. Theo tác giả kể lại trong về một truyện ngắn

– Rừng xà nu (tháng 2 – 1990), những nhân vật Tnú, Dít, cụ Mết đều là những con người có thật, tác giả đã từng gặp ở Tây Nguyên, bước vào tác phẩm với một tư thế mới, dáng vẻ mới phù hợp với thời điểm lịch sử của truyện trong những ngày đồng khởi chống Mĩ ở Tây Nguyên. (Dít và cụ Mết vẫn được giữ tên cũ, còn Tnú là tên tác giả mới đặt cho anh Đề, vì “cái tên Đề nó Kinh quá, không hợp với Tây Nguyên”). Dĩ nhiên, khi đi vào tác phẩm, những con người thật đó đã được điển hình hóa, khái quát hóa thành những nhân vật văn học có tầm cao hơn, mang chất sử thi đẹp hơn.

Đọc văn bản

Đọc toàn văn bản một lần để nắm được cốt truyện và diễn biến câu chuyện, có cảm nhận chung về tác phẩm; sau đó đọc kĩ những đoạn quan trọng, chú ý các đoạn sau đây:

– Đoạn mở đầu: miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác.

– Đoạn kể bọn lính giặc đánh đập dã man và giết chết mẹ con Mai.

– Đoạn từ “Tnú không cứu sống được Mai” đến “…mình phải cầm giáo!…” (trang 47).

– Đoạn kể về hai bàn tay của Tnú bị giặc đốt cháy thành mười ngọn đuốc

– Đoạn kết: Tnú lại ra đi… Và những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời.

Tìm hiểu tác phẩm 1. Ý nghĩa của thiên truyện ngắn qua:

a) Nhan đề tác phẩm: Rừng xà nu. Cũng giống như Bài ca chim Chơ-rao của Thu Bồn, Bóng cây Kơ-nia của Ngọc Anh (phỏng theo dân ca Tây Nguyên), Nguyễn Trung Thành lấy một hình ảnh tiêu biểu, quen thuộc của vùng đất Tây Nguyên là Rừng xà nu như một biểu trưng đẹp đẽ để nói lên sức sống bền vững, trường tồn của người dân Tây Nguyên, tượng trưng cho tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất và khí thế chiến thắng của họ trong công cuộc chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc. Rừng xà nu đã trở thành một hình tượng mang vẻ đẹp sử thi hào hùng, tráng lệ của truyện ngắn chống Mĩ này, và ngay từ nhan đề, đã tạo ra sức cuốn hút, mời gọi người đọc đến với tác phẩm.

b) Đoạn văn miêu tả cánh rừng xà nu dưới tầm đại bác: Đoạn văn mở đầu đã tạo một “không khí” rất ấn tượng cho câu chuyện về làng Xô Man chống Mĩ sẽ kể trong tác phẩm. Đại bác giặc đã bắn gãy hàng vạn cây xà nu nhưng những cây xà nu con lại mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Trong đau thương, xà nu vẫn sinh sôi nảy nở và trường tồn bất diệt như sức sống của dân làng Xô Man trong công cuộc đánh Mĩ, và “cứ thế hai ba năm nay cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”. Đoạn văn đã tô đậm, khắc sâu ý nghĩa của nhan đề và góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề của tác phẩm.

c) Hình ảnh những ngọn đồi, cánh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm có tác dụng nhấn mạnh thêm hình tượng biểu trưng của truyện, gây ấn tượng trong người đọc và tạo ra mối liên hệ mật thiết giữa cây xà nu với các thế hệ dân làng Xô Man chống Mĩ. (Trong truyện, tác giả đã nhắc đến cây xà nu tới 20 lần bằng những câu văn đẹp).

2. “Rừng xà nu là truyện của một đời, và được kể trong một đêm” (Nguyên Ngọc)

a) Người anh hùng mà cuộc đời được kể trong cái đêm dài ấy là Tnú. Anh là chiến sĩ giải phóng quân, được cấp trên cho phép về thăm nhà trong một đêm, và trong cái đêm đáng ghi nhớ ấy, ngoài trời mưa lâm thâm, rì rào như gió nhẹ, bên bếp lửa nhà sàn bập bùng ngọn lửa xà nu cháy đượm, cụ Mết đã kể cho dân làng nghe về cuộc đời của Tnú

– một cuộc đời bình thường như bao cuộc đời khác của dân làng Xô Man nhưng đó là cuộc đời anh hùng bất khuất của người con của núi rừng Tây Nguyên đã đứng lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai để bảo vệ buôn làng và góp phần bảo vệ đất nước. Ba năm đi bộ đội về thăm làng, Tnú đã trưởng thành, nhưng anh vẫn hòa chung với dân làng, vẫn giữ vẹn nguyên truyền thống kiên cường bất khuất của núi rừng quê hương, vẫn là một cây xà nu vững chãi trong Rừng xà nu bạt ngàn, bất tận của Tây Nguyên hùng vĩ.

Cuộc đời của Tnú được cụ Mết bắt đầu kể cho dân làng nghe như một huyền thoại của quê hương: “Nó đấy! Nó là người Stra mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta. Đêm nay tao kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tao chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”. Và câu chuyện về cuộc đời người anh hùng ấy được già làng Mết kể lại bằng tiếng nói rất trầm hòa trong tiếng mưa đêm rì rào, bên bếp lửa xà nu bập bùng như lời kể khan Đam Săn, Xin Nhã thuở nào vọng về, nghe thiêng liêng mà gần gũi, ấm áp… Cuộc đời của Tnú như một cuốn phim quay chậm, hiện lên trước mắt mọi người một con người bình thường mà đẹp, giản dị mà anh hùng, đau thương mà bất khuất, và con người ấy đã trưởng thành, đã chiến thắng kẻ thù của buôn làng anh, cũng là kẻ thù chung của đất nước. Qua cuộc đời ấy, ta thấy rõ những phẩm chất đẹp đẽ và đáng quý của người anh hùng.

– Tnú, trước hết cũng là một con người, như bao con người khác, anh rất thương yêu vợ con, và tìm mọi cách để bảo vệ Mai, và đứa con nhỏ bị giặc bắt, bị chúng đánh đập dã man. Chứng kiến cảnh đó, “hai con mắt anh đã thành hai cục lửa lớn”; cụ Mết đã không ngăn nổi anh, và “một tiếng hét dữ dội, Tnú đã nhảy xổ vào giữa bọn lính”, “hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai”.

– Anh căm thù bọn giặc đến tàn sát buôn làng, giết hại người dân làng Xô Man cũng như đã đánh đập và giết chết vợ con anh một cách vô cùng tàn bạo, dã man.

– Nhưng phẩm chất cơ bản nhất và đáng quý nhất của Tnú là lòng yêu nước, yêu buôn làng và trung thành với cách mạng, tin tưởng vào Đảng, vào cán bộ, Tnú đã nhắc lại lời cụ Mết một cách đinh ninh, tin tưởng: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Và khi mười ngón tay đã cháy thành mười ngọn đuốc, nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng, Tnú vẫn nghe lời anh Quyết, không kêu, không thèm kêu van…

– Cuộc đời Tnú đầy đau khổ do tội ác của kẻ thù gây nên. Vợ con anh bị giặc giết hại, bản thân anh bị giặc đốt mười ngón tay, mỗi ngón chỉ còn hai đốt. Nhưng “bàn tay hận thù” ấy đã thành “bàn tay trả thù”, và trong một trận chiến đấu, anh đã bóp chết tên chỉ huy đồn bằng đôi bàn tay tàn tật khi nó cố thủ trong hầm.

Tóm lại, từ trong đau thương, mất mát, Tnú đã đứng dậy và trưởng thành trong ngọn lửa yêu nước và cách mạng của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Từ một em liên lạc chưa biết chữ, thành một du kích gan dạ, dũng cảm của buôn làng, và cuối cùng, Tnú đã xin gia nhập bộ đội để thành một chiến sĩ giải phóng quân có ý thức đầy đủ về vai trò và nhiệm vụ của mình, có đủ sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Từ truyền thống kiên cường bất khuất của núi rừng Tây Nguyên, anh đã ra đi để góp phần bảo vệ buôn làng, và khi về, anh lại làm đẹp thêm truyền thống đó của quê hương. Chính cụ Mết đã phải thốt lên lời khen: “Anh lực lượng”… Được!” Lời khen của người già làng xác nhận anh đã trưởng thành, xứng đáng với quê hương, là niềm tự hào của người Strá, của dân làng Xô Man. Người anh hùng ở đây luôn gắn bó với cội nguồn, với mọi người, mang vẻ đẹp gần gũi, thân quen, chính vì thế mà càng đáng quý.

b) Trong câu chuyện bị tráng về cuộc đời Thú, bốn lần cụ Mết nhắc tới ý Tnú đã không cứu sống được vợ con là để nhấn mạnh một điều: chúng ta chưa chuẩn bị được lực lượng, chưa có đủ vũ khí để đánh giặc và thắng giặc. Hai bàn tay không thì làm sao mà thắng giặc? Ngùn ngụt căm thù như lửa cháy, nhưng Tnú “chỉ có hai bàn tay trắng” thì làm sao cứu được vợ con; không những thế, chính Tnú cũng bị giặc trói lại và tra tấn dã man như ta đã biết. Nhấn mạnh điều này là để cụ Mết nhắc nhở con cháu đến một điều hệ trọng nhất, cốt tử nhất – nó là điều sống còn cho dân làng Xô Man: “Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tạo chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”. Nghe như lời di huấn, lời trăng trối thiêng liêng của người già làng đối với con cháu trong buôn. Bởi đây chính là sự lựa chọn con đường đi đúng đắn nhất của buôn làng, của Tây Nguyên, của cả dân tộc lúc này: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác là phải đứng lên, cầm vũ khí chống lại và tiêu diệt kẻ thù tàn ác. Qua lời nhắc nhở của cụ Mết với dân làng Xô Man, tác giả đã đặt ra một điều có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại. Đây cũng là chủ đề tư tưởng sâu sắc của thiên truyện ngắn này.

c) Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn của dân tộc ta trong thời đại chống Mỹ cứu nước lúc bấy giờ để chống lại một kẻ thù tàn ác nhất: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng. Làng Xô Man ở Tây Nguyên cũng như toàn miền Nam, cả nước ta đã chiến thắng giặc Mĩ bằng con đường ấy để làm sáng ngời lên chân lí ấy của dân tộc và của thời đại. Và cũng chính vì thế mà câu chuyện bi tráng của cuộc đời Tnú mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường của cộng đồng làng Xô Man. Đó cũng là lí do cụ Mết muốn chân lí ấy phải được nhớ, được ghi để truyền cho con cháu.

d) Các hình tượng cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng đã góp phần không nhỏ làm nổi bật nhân vật chính và tư tưởng của tác phẩm

– Cụ Mết là người kể lại chuyện cuộc đời Tnú cho dân làng nghe, cũng chính là người đã nói lên cái chân lí lớn lao của dân tộc và thời đại: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”

– Mai là vợ của Tnú, qua việc Mai dạy chữ cho Tnú và việc Mai và con bị giặc tra tấn, giết chết một cách tàn bạo đã làm nổi bật tính cách, hành động và phẩm chất của Tnú.

– Dít là em Mai, “nhưng tôi muốn nít sẽ là mối tình sau của Tnú, một mối tình sẽ lờ mờ và chắc chắn hiện lên ở cuối truyện” (Nguyên Ngọc); Dít lại là bí thư chi bộ làng Xô Man. Nhân vật này cùng góp phần làm rõ tính cách của Tnú và bộc lộ tư tưởng cơ bản của tác phẩm.

– Bé Heng là thế hệ tiếp theo của Tnú, là những cây xà nu con trong Rừng xà nu bạt ngàn, chắc chắn bé Heng cũng sẽ là một Tnú trong tương lai để đi tiếp bước đường của anh, thực hiện ước mơ và lí tưởng của anh.

Hình ảnh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết với nhau như thế nào?

– Hình ảnh cánh rừng xà nu là hình ảnh thiên nhiên biểu trưng cho sức sống mãnh liệt, cho ý chí kiên cường bất khuất và khí thế chiến thắng của nhân dân Tây Nguyên, của dân làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

– Hình tượng nhân vật Tnú được xem như là một cây xà nu nhỏ, khỏe, vững chãi, vươn thẳng lên trời, đón lấy ánh sáng để sống và phát triển trong rừng xà nu bạt ngàn của Tây Nguyên với màu xanh bất tận, chạy dài tít tắp đến tận chân trời.

– Hình ảnh cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú, theo cách thể hiện trong ý đồ nghệ thuật của tác giả, tự nó đã có sự gắn bó hữu cơ, khăng khít với nhau trong tác phẩm, soi chiếu vào nhau để bộc lộ chủ đề của truyện. Cây xà nu ham ánh sáng, ham khí trời cũng giống như Tnú ham lí tưởng, tìm đến cách mạng, một lòng trung thành với cách mạng. Cây xà nu lớn nhanh, ngọn như mũi tên lao thẳng lên bầu trời cũng giống quá trình trưởng thành nhanh chóng của Tnú. Cây xà nu bị thương, nhựa chảy ra đặc quện lại như những cục máu cũng là cuộc đời đau khổ của Tnú: vợ con bị kẻ thù giết hại, bản thân bị tra tấn dã man… Nhưng Tnú đã vượt qua để chiến thắng cũng như những cây xà nu lại mọc lại, ngọn xanh rờn, nhọn hoắt như những mũi lê, chĩa thẳng lên trời.

Nghệ thuật của tác phẩm

Gợi ý:

– Tạo ra cảnh “rừng xà nu” làm phông nền thiên nhiên hào hùng, tráng lệ cho câu chuyện kể.

– Kết cấu truyện: câu chuyện một đời được kể trong một đêm.

– Khắc họa nhân vật sống động, dẫn truyện khéo, nhiều chi tiết gợi cảm, gây ấn tượng mạnh.

– Chất sử thi hào hùng và vẻ đẹp lãng mạn của truyện đã tạo ra sức cuốn hút và hấp dẫn người đọc.

Cuối cùng, đọc kĩ phần Ghi nhớ trong SGK để nắm vững bài học.

LUYỆN TẬP

Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm (Có thể đọc trong SGK Văn học 12 những năm trước đây).

Hình ảnh đôi bàn tay Tnú:

– Sự tra tấn vô cùng dã man, tàn bạo, không còn tính người của | bọn giặc đối với Tnú. – Sự chịu đựng ghê gớm của Tnú: anh trợn mắt nhìn thằng Dục, lửa

cháy nóng trong lồng ngực, cháy ở bụng, anh vẫn không kêu lên | một tiếng nào, không thèm kêu van. Đó là khí phách của anh trước kẻ thù, là lòng trung thành của anh đối với cách mạng.

– Nếu đọc trọn vẹn tác phẩm có thể nói thêm về “bàn tay hận thù” của Tnú trong sự liên kết thống nhất của hình tượng: từ “bàn tay hận thù” đến “bàn tay trả thù” của Tnú. Dựa vào những gợi ý trên đây, anh (chị) phát biểu suy nghĩ và cảm xúc của mình về hình ảnh đôi bàn tay Tnú.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa