Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Nhân vật giao tiếp

Hướng dẫn soạn văn 12 – Nhân vật giao tiếp – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 12 | Soạn văn lớp 12 | Soạn văn 12 Tuần 20 | Soạn bài Nhân vật giao tiếp | Tài Liệu Chùa

Phân tích ngữ liệu

Đọc đoạn trích Vợ nhặt của Kim Lân và trả lời câu hỏi.

a) Trong hoạt động giao tiếp trên đây có nhiều nhân vật giao tiếp:

– Cặp nhân vật giao tiếp chính với nhau là Tràng và cô gái được gọi là “Thị”.

– Ngoài ra, còn có mấy cô gái bạn với cô được gọi là “Thị”. Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp: – Về lứa tuổi: còn trẻ (các cô gái chưa chồng và Tràng cũng chưa có vợ).

– Giới tính: có cả nam (Tràng) và nữ (các cô gái).

– Tầng lớp xã hội: thuộc lớp người lao động nghèo trong xã hội, đi kiếm sống hàng ngày trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.

b) Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời như sau:

– Đầu tiên là câu hò của Tràng (vai người nói: hò cho đỡ nhọc, nhưng cũng có ý hướng vào các cô gái đang ngồi ở đấy – và họ chính là vai người nghe).

– Tiếp đó, các cô gái đẩy vai cô ả này (“thị”) ra với hắn và nói câu tiếp theo: các cô gái là vai người nói, còn vai người nghe ở đây là cô ả (“thị”) và có thể là cả Tràng nữa. – Cô ả (“thị”) lên tiếng tiếp theo: cô là vai người nói, còn vai người nghe lúc này lại là các cô gái và Tràng. Như vậy, lượt lời đầu tiên của “thị” không chỉ hướng tới Tràng (“Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?”) mà còn hướng tới cả các cô gái nữa (“Có khối cơm trắng mấy giò đấy!” – câu này vừa hướng tới các cô gái lại có thể hướng tới cả Tràng nữa).

– Tràng trả lời cô ả (“thị”); Tràng là vai người nói, “thị” là vai người nghe.

– Lượt lời cuối cùng: vai người nói là “thị”, còn vai người nghe là Tràng.

c) Các nhân vật giao tiếp đều bình đẳng về vị trí xã hội, họ đều là những người lao động nghèo đi kiếm sống trong nạn đói năm 1945.

d) Khi bắt đầu giao tiếp, Tràng chưa hề quen với các cô gái, nhưng cách giao tiếp dân dã giữa họ đã khiến họ từ quan hệ xa lạ chuyển thành quan hệ thân tình. Ngay câu hò của Tràng cũng là lời giao tiếp có khả năng xóa đi “khoảng cách xa lạ” để tạo ra “quan hệ thân tình” khiến các cô gái mới có thể cười như nắc nẻ và nói với “thị”: “Kìa anh ấy gọi!”, còn “thị” thì lại có thể nói ngay một câu thật thân tình với Tràng: “Này, nhà tôi ơi…”.

e) Như vậy, những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân – sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,… đã chi phối lời nói của các nhân vật khá rõ (qua cách xưng hô, cách nói năng và những điệu bộ, cử chỉ phụ trợ cho lời nói,…).

Đọc đoạn văn trong Chí Phèo của Nam Cao và phân tích theo những câu hỏi đã nêu trong SGK.

a) Trong đoạn văn trên, có các nhân vật giao tiếp:

– Cụ Bá (tức Bá Kiến)

– Lí Cường (con trai Bá Kiến)

– Chí Phèo

– Các bà vợ Bá Kiến

– Những người làng Vũ Đại Trường hợp Bá Kiến nói với một người nghe: các lời nói với Chí Phèo. Trường hợp Bá Kiến nói với nhiều người nghe:

– Câu nói với các bà vợ

– Câu nói với dân làng

– Câu nói cuối cùng với Lí Cường, nhưng cũng là câu nói cho Chí Phèo nghe.

b) Vị thế xã hội của Bá Kiến đã chi phối cách nói và lời nói của Bá Kiến:

– Đối với các bà vợ là vị thế gia trưởng; cách nói: quát, lời nói: đuổi vào nhà.

– Đối với người làng là vị thế chánh tổng; cách nói: có dịu hơn nhưng nội dung lời nói vẫn là bảo họ đi về nhà.

– Đối với Chí Phèo, trước đây là chủ – tớ, bây giờ là vị thế địch thủ của nhau, Chí lại đến nhà để ăn vạ, nên cách nói của Bá Kiến lúc này là ngọt nhạt, khéo léo, lời nói nhẹ nhàng, vừa xoa dịu vừa nâng vị thế của Chí Phèo, kết tội Lí Cường,…

– Đối với Lí Cường là vị thế cha – con, cách nói: quát mắng, lời – nói: ra lệnh.

c) Đối với Chí Phèo, Bá Kiến đã thực hiện một chiến lược giao tiếp có thể nói là rất hoàn hảo để đánh gục đối thủ, bằng cả lời nói và hành động theo các bước sau đây:

– Trước hết, Bá Kiến đuổi hết mọi người về để cô lập địch thủ và chỉ đối thoại với riêng Chí Phèo.

– Sau đó, Bá Kiến tìm mọi cách để “hạ nhiệt” cơn tức giận của Chí Phèo

– Tiếp theo, Bá Kiến nâng vị thế của Chí Phèo lên ngang hàng với mình và nhận Chí Phèo là có họ hàng.

– Cuối cùng, Bá Kiến kết tội Lí Cường, con trai mình, rồi ra lệnh cho Lí Cường phải đón tiếp Chí Phèo chu đáo để làm cho Chí Phèo hả dạ, tin theo mình.

d) Với chiến lược giao tiếp như trên, Bá Kiến đã đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp, cô lập được địch thủ để từng bước thuyết phục Chí Phèo nghe theo mình. Và không chỉ Chí Phèo, mà những người nghe trong cuộc hội thoại với Bá Kiến như các bà vợ, dân làng, con trai đều nghe và làm theo lời của Bá Kiến.

Cuối cùng, đọc kĩ và học thuộc phân Ghi nhớ trong SGK để nắm vững bài học.

LUYỆN TẬP

Phân tích sự chi phối của vị thế xã hội ở các nhân vật đối với lời nói của họ trong đoạn trích Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan.

Gợi ý:

Trong đoạn đối thoại này, có hai nhân vật giao tiếp là ông Lí và anh Mịch. Vị thế xã hội của hai nhân vật này khác nhau, thậm chí đối lập nhau trong xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng tháng Tám:

– Ông Lí có vị thế xã hội cao, là người đại diện cho chính quyền thực dân phong kiến ở làng, thuộc giai cấp thống trị, nắm quyền sinh quyền sát trong tay.

– Anh Mịch có vị thế xã hội thấp, là người nông dân nghèo làm thuê cho ông Nghị, thuộc giai cấp bị trị, bị áp bức bóc lột, bị o ép nhiều bề, quyền sống không được bảo đảm.

Đoạn đối thoại trên diễn ra trong cuộc lùng bắt người đi xem đá bóng theo lệnh của quan trên: ông Lí là người đi bắt, anh Mịch là người van xin để khỏi phải đi xem đá bóng.

Dựa vào những gợi ý trên, anh (chị) hãy chỉ rõ sự chi phối của vị thế xã hội đối với lời nói của hai nhân vật giao tiếp: ông Lí và anh Mịch.

Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm về vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, văn hóa,… của các nhân vật giao tiếp với đặc điểm trong lời nói của từng người ở đoạn trích Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc.

Gợi ý:

– Trong đoạn trích này có các nhân vật giao tiếp với những lời nói khác nhau của họ:

– Viên đội sếp Tây (quát tháo)

– Chú bé con (thầm thì)

– Chị con gái (thốt ra)

– Anh sinh viên (kêu lên)

– Bác cu

– li xe (thở dài)

– Một nhà nho (lẩm bẩm)

Đọc kĩ những lời nói của các nhân vật trên đây và suy nghĩ để trả lời câu hỏi: Vì sao viên đội sếp Tây lại có thể quát tháo dân chúng . bằng những lời thô bỉ và hống hách như vậy? (ở vị thế xã hội nào?).

Vì sao, cùng một đối tượng là quan Toàn quyền, mà mỗi nhân vật trong đám đông lại có những lời khác nhau về y như vậy?

Đọc đoạn trích Tắt đèn của Ngô Tất Tố và phân tích theo những câu hỏi nêu trong SGK.

a) Bà lão hàng xóm và chị Dậu có cùng một vị thế xã hội như nhau: họ đều là những người nông dân nghèo trong xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng tháng Tám. Quan hệ của họ là quan hệ láng giềng “tối lửa tắt đèn” có nhau, thực chất là tình thương yêu giai cấp giữa những người lao động với nhau. Vị thế và quan hệ đó đã chi phối lời nói và cách nói của hai người đối với nhau rất rõ. Anh (chị) phân tích để làm sáng tỏ.

b) Sự tương tác về hành động nói giữa lượt lời của hai nhân vật giao tiếp được thể hiện như sau:

– Câu 1: Bác trai đã khá rồi chứ? (Bà lão hỏi thăm)

– Câu 2: Cảm ơn cụ, nhà cháu đã tỉnh táo như thường… (Chị Dậu cảm ơn)

(Những câu sau cũng có nội dung và cách nói tương tự như vậy).

c) Lời nói và cách nói của các nhân vật cho thấy:

– Tính cách tốt đẹp: bà cụ thương người, quan tâm nhiệt tình đến người bị nạn; chị Dậu thương chồng, săn sóc chồng chu đáo, mang ơn người đã cứu giúp chồng mình. Văn hóa đang trọng: tuy là người lao động nhưng cách ứng xử và lời nói của họ đều chứng tỏ họ là những người có văn hóa đáng trân trọng.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa