Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Ôn tập phần văn học kì 2

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Ôn tập phần văn học kì 2 – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 33  | Soạn bài Ôn tập phần văn học kì 2 | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Ôn tập phần văn học kì 2
Soạn văn 11 soạn bài Ôn tập phần văn học kì 2

Gợi ý trả lời câu hỏi

Câu 1: Thơ mới khác với thơ truyền thống (thơ trung đại) không chỉ ở “phần xác” của thơ, mà chủ yếu là ở “phần hồn” của nó, hay nói như Hoài Thanh là ở “tinh thần thơ mới” (Một thời đại trong thi ca). Đó là “cái tôi” cá nhân với cách nhìn con người, cuộc đời và thiên nhiên bằng đôi mắt xanh non, bằng cặp mắt biếc rờn (Xuân Diệu). Đó là cách nhìn đời bằng đôi mắt trẻ trung, tươi mới, ngơ ngác trước thiên nhiên và cuộc sống, đồng thời thấm đượm một nỗi buồn cô đơn, bơ vơ giữa cuộc đời trước không gian mênh mông và thời gian vô tận. Thơ mới khác thơ trung đại không chỉ ở phương diện nghệ thuật (phá bỏ những lối diễn đạt ước lệ, những quy tắc cứng nhắc, những công thức gò bó,…) mà chủ yếu ở phương diện nội dung (cách nhìn, cách cảm mới mẻ đối với con người và thế giới). Lời thơ trong

thơ mới được tổ chức gần với chuỗi lời nói của cá nhân khác với lời thơ trong thơ trung đại, do bị tính quy phạm chi phối, nên thường nặng tính ước lệ, cách điệu,…

Câu 2: các bài thơ Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu), Hầu Trời (Tản Đà), nội dung cảm xúc đã có những nét mới, nhưng thể thơ, thi pháp cơ bản vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.

Câu 3. Quá trình hiện đại hoá của thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 được thể hiện khá rõ qua các bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, Hầu Trời của Tản Đà, Vội vàng của Xuân Diệu.

– Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920), thành tựu chủ yếu của văn học là thơ của các chí sĩ cách mạng, tiêu biểu là Phan Bội Châu. Trong sáng tác của họ, nội dung tư tưởng đã khác với thơ ca thế kỉ XIX, nhưng về nghệ thuật vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại, các ông vẫn viết theo thi pháp thơ ca trung đại. Điều đó thể hiện rất rõ trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu. Trong bài thơ này, Phan Bội Châu đã thể hiện lẽ sống mới, quan niệm mới về chỉ làm trai, nhưng vẫn viết bằng thi pháp và ngôn ngữ văn học trung đại.

– Giai đoạn thứ hai (khoảng từ 1920 đến 1930), công cuộc hiện lại hoá văn học đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Văn học giai đoạn này đã đổi mới, đã có tính hiện đại, nhưng những yếu tố của thi pháp văn học trung đại vẫn tồn tại khá phổ biến nhất là trong sáng tác thơ.

Bài thơ Hầu trời của Tản Đà thể hiện rất rõ tính chất nói trên. Trong Hầu Trời, đã thấy xuất hiện một “cái tôi” cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát đuợc khẳng định mình. Qua Hầu Trời, Tản Đà cũng bộc lộ một quan niệm khá hiện đại về nghề văn. Cách chia khổ thơ như vậy cũng chưa từng thấy trong thơ thời kì trung đại,… Nhưng “cái tôi” cá nhân phóng túng của Tản Đà vẫn phảng phất tinh thần cái ngông của nhà nho tài tử của thơ ca cuối thời trung đại kiểu Nguyễn Công Trứ, Tú Xương,… Vì vậy, Hầu trời chưa thể xem là thực sự hiện đại. Tản Đà, qua Hầu Trời và những bài thơ khác của ông, “có thể xem như cái gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc”.

– Giai đoạn thứ ba (khoảng từ 1930 đến 1945), nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại. Phong trào Thơ mới (được khởi lên từ năm 1932) được xem là một cuộc cách mạng trong thơ ca” (Hoài Thanh). Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Tương tự của Nguyễn Bính… là những bài thơ rất tiêu biểu, thể hiện rất rõ những đặc trưng của thơ mới. Đó là tiếng nói nghệ thuật của “cái tôi” cá nhân tự giải phóng hoàn toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới và lòng mình bằng con mắt của cá nhân, đồng thời cảm thấy bơ vợ, cô đơn trước vũ trụ và cuộc đời.

Trắc nghiệm khách quan

1. Thơ mới khác với thơ trung đại ở những điểm nào?

A. Nội dung. B. Tư tưởng. C. Hình thức. D.Cả A và B.

2. Những yếu tố nào trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương thuộc phàm trù văn học trung đại?

A. Thể thơ. B. Tư tưởng thẩm mỹ trong bài thơ. C. Thi pháp cơ bản trong bài thơ. D.Cả A, B đều đúng.

3. Tóm tắt văn bản nghị luận là gì? 

A. Là tóm gọn lại những ý chính trong đoạn trích. B. Là loại bỏ những ý không quan trọng trong bản gốc.

C. Là trình bày ngắn gọn nội dung của văn bản gốc theo mục đích định trước. D.Cả ba ý kiến trên

4. Tóm tắt nhằm những mục đích gì?

A.Sử dụng làm tài liệu để biện minh cho các quan điểm, ý kiến mà không làm tăng quá mức dung lượng của văn bản.

B.Thu nhập, ghi chép tư liệu cho bản thân để có thể sử dụng khi cần thiết.

C. Luyện tập năng lực đọc – hiểu, năng lực tóm tắt văn bản.

D.Cả A, B và C.

5. Xếp bài thơ Hầu Trời của Tản Đà vào phong trào thơ mới dựa trên những chi tiết nào?

A. Trong bài xuất hiện cái tôi cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khá được khẳng định mình.

B. Bộ lộ quan niệm khá hiện đại về nghề văn.

C. Cách chia khổ trong bài thơ.

D. Cả ba ý kiến trên

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa