Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Một số thể loại văn học: kịch, văn nghị luận

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Một số thể loại văn học: kịch, văn nghị luận – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 32  | Soạn bài Một số thể loại văn học: kịch, văn nghị luận| Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Một số thể loại văn học kịch, văn nghị luận
Soạn văn 11 soạn bài Một số thể loại văn học kịch, văn nghị luận

Gợi ý trả lời câu hỏi một số thể loại văn học: kịch, văn nghị luận

Câu 1: Những đặc trưng cơ bản của kịch: tập trung miêu tả xung đột trong đời sống; hành động kịch được tổ chức qua cốt truyện, được thực hiện bởi các nhân vật; ngôn ngữ kịch mang đặc điểm khắc họa tính cách, có tính hành động, có tính khẩu ngữ cao.

Việc đọc – hiểu kịch bản văn học thường được thực hiện theo bốn bước: tìm hiểu xuất xứ, cảm nhận lời thoại, của các nhân vật; phân tích hành động kịch; nếu chủ đề tư tưởng của tác phẩm. 

Bài học trong SGK thường chỉ lấy một đoạn trích trong vở kịch làm nội dung học tập. Để hiểu đoạn trích, việc đọc toàn bộ kịch bản là cần thiết, nhưng rất khó thực hiện. Trong phạm vi nhà trường, tìm hiểu xuất xứ (những lời giới thiệu về tác giả, tác phẩm; thời đại mà tác phẩm ra đời; vị trí của đoạn trích trong toàn bộ tác phẩm) là một cách để có hiểu biết chung về tác phẩm, từ đó có cơ sở để cảm nhận nội dung và ý nghĩa đoạn trích được học.

Cảm nhận lời thoại của các nhân vật là thao tác quan trọng trong hoạt động đọc hiểu kịch bản văn học. Chú ý tính chất ngôn ngữ của từng nhân vật: giọng điệu (tàn ác hay hiền hậu), dùng từ ngữ giản dị hay bóng bẩy,…), kiểu câu (câu cảm thán hay câu hỏi, câu cầu khiến…). Xác định đặc điểm, tính cách của nhân vật qua các kiểu lời thoại (đối thoại, độc thoại, bàng thoại). Chú ý mối quan hệ giữa các nhân vật theo diễn tiến biểu hiện ngôn ngữ và tính cách. Ví dụ, lời thoại trong vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng cho thấy tính cách của Vũ Như Tô, Đan Thiềm và quan hệ của họ. Tính cách nổi bật nhất của Vũ Như Tô là tính cách của người nghệ sĩ tài ba, hiện thân cho niềm khát khao và đam mê sáng tạo cái đẹp. Tính cách của Đan Thiềm là tính cách của người đam mê cái tài, cụ thể là tài sáng tạo nên cái đẹp, “bệnh Đan Thiềm” là bệnh mê đắm người tài hoa. Chứng “đồng bệnh” của Vũ Như Tô và Đan Thiềm thực chất là sự đồng điệu trong cả mộng ước và nỗi đau, xuất phát từ sự tự ý thức sâu xa về bi kịch của Tài và Sắc (hay là sự bạc bẽo của thân phận nghệ sĩ và người đẹp trong xã hội phong kiến xưa).

Câu 2: Văn nghị luận là trình bày trực tiếp tư tưởng, quan điểm, tình cảm về những vấn đề mà xã hội quan tâm bằng lí lẽ, chứng cứ có sức thuyết phục.

Việc đọc – hiểu văn bản nghị luận thuờng được thực hiện theo năm buớc: tìm hiểu xuất xứ; phát hiện và tóm lược các luận điểm tư tưởng, cảm nhận các sắc thái cảm xúc phân tích; biện pháp lập luận, cách nêu chứng cứ, sử dụng ngôn ngữ khái quát nội dung và nghệ thuật.

Luyện tập

Câu 1: Xung đột là cơ sở của hành động kịch. Chính các xung đột chi phối hành động của các nhân vật và từng bước đòi hỏi phải được giải quyết để thúc đẩy hành động kịch. Tuy nhiên, trong thực tế, có những hành động kịch không xây dựng trên cơ sở các xung đột.

Trong đoạn trích Tình yêu và thù hận, người ta dễ cho rằng có xung đột giữa tình yêu của đôi trai gái với mối thù hận giữa hai dòng họ. Thực ra không phải như vậy. Rô-mê-ô yêu Giu-li-et không một chút đắn đo, trong tâm hồn chàng không hề có sự giằng co, vì tình yêu, chàng sẵn sàng từ bỏ tên họ của mình. Còn Giu-li-ét chỉ băn khoăn không biết Rô-mê-ô có vượt qua được thù hận gia đình không; trong tâm hồn nàng tràn ngập tình yêu với Rô-mê-ô.

Tóm lại, ở đây không có xung đột giữa tình yêu và thù hận, chỉ có tình yêu trong sáng, dũng cảm bất chấp thù hận, vượt lên hận thù.

Câu 2; Cấu trúc lập luận trong bài phát biểu gồm bảy đoạn. Phần mở đầu gồm hai đoạn 1 và 2. Phần nội dung chính gồm bốn đoạn 3, 4, 5, 6. Phần kết luận gồm đoạn 7 và câu cuối cùng.

 Biện pháp lập luận trong phần nội dung chính là so sánh tăng tiến (hay so sánh tầng bậc): nội dung đoạn sau có giá trị cao hơn đoạn trước. Ăng-ghen đã tổng kết ba cống hiến vĩ đại của Mác cho loài người: ra quy luật phát triển của xã hội là hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc (đoạn 3); phát hiện ra giá trị thặng dư, quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (đoạn 4); khẳng định phải biến lí thuyết thành hành động cách mạng (đoạn 5, 6). Các vế câu ở đầu mỗi đoạn được coi là dấu hiệu của lập luận tăng tiến: “Nhưng không phải chỉ có thế mà thôi”; “Nhưng đấyhoàn toàn không phải là điều chủ yếu ở Mác”; “… nhưng niềm vui của ông còn lớn hơn nữa.”. 

Nghệ thuật lập luận là một nhân tố quan trọng góp vào thành công của bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa