Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 31  | Soạn bài Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh) | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Một thời đại trong thi ca
Soạn văn 11 soạn bài Một thời đại trong thi ca

Gợi ý trả lời câu hỏi

Câu 1: Theo tác giả, cái khó trong việc tìm ra tinh thần của thơ ca mới là ranh giới giữa thơ cũ và thơ mới không phải rạch ròi, dễ nhận ra.

Tác giả đã đưa ra những đề nghị nhận diện như sau:

+ Không thể căn cứ vào những bài thơ dở, thời nào chả có mà phải so sánh bài hay với bài hay.

+ Vả chăng cái mới và cái cũ vẫn nối tiếp qua lại cho nên phải so sánh trên đại thể.

Câu 2: Điều cốt lõi mà thơ mới đưa đến cho thi đàn Việt Nam:

+ Cái khác nhau là chữ tôi và chữ ta. Ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là thời chữ tôi.

+ Chữ tôi trước đây nếu có thì phải ẩn mình sau chữ ta. Chữ tôi bây giờ là chữ tôi theo ý nghĩa tuyệt đối của nó.

+ “Cái tôi” bây giờ đáng thương và tội nghiệp ở chỗ nó không còn cái cốt cách hiên ngang ngày trước như cái khí phách ngang tàng của Lí Bạch, cái tự trọng trước cơ hàn như Nguyễn Công Trứ mà rên rỉ, khổ sở, thảm hại, phiêu lưu trong trường tình, thoát lên tiến, điên cuồng, đắm say, bơ vơ, ngẩn ngơ buồn, bàng hoàng mất lòng tin, … Nói chung, thơ mới nói lên cái bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm dưới những phù hiệu dễ dãi trong hồn người thanh niên.

+ Họ giải quyết bi kịch đó bằng cách gửi cả vào tiếng Việt, vì thế tiếng Việt là vong hồn các thế hệ đã qua, vì họ tin vào lời nói triết lí “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”. Vì họ cảm thấy tinh thần giống nòi cũng như các thể thơ xưa có biến thiên không sao tiêu diệt, vì phải “tìm về dĩ vãng để vin vào những gì bất diệt đủ bảo đảm cho ngày mai”. 

Câu 3. Lí do theo Hoài Thanh là:

– Nó không còn được cái cốt cách hiên ngang ngày trước: không còn cái khí phách ngang tàng của Lí Bạch, lòng tự trọng để khinh cảnh cơ hàn như Nguyễn Công Trứ. Thơ chất chứa nỗi “buồn”, “xôn xao”, “cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên ngày trước”, thiếu “một lòng tự tin đầy đủ”. Âm điệu thơ có khi “rên rỉ”, “thảm hại”,…

– Thơ mới nói lên cái bi kịch của lớp thanh niên không có lối thoát (Mất bề rộng đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh… Trốn lên tiên thì đồng tiền đã khép, hay phiêu lưu trong trường tình thì tình yêu không bền, điên cuồng rồi lại tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ…). Đó là bi kịch của lớp người ít nhiều có tâm huyết với dân tộc nhưng không đủ khí phách vùng dậy giành độc lập tự do, đành phải nấp mình “dưới những lớp phù hiệu dễ dãi”.

Câu 4: Các nhà thơ lãng mạn cũng như “người thanh niên” bấy giờ đã giải thoát bi kịch của đời mình bằng cách thoát li để giải tỏa nỗi buồn. Với mỗi nhà thơ tác giả chỉ dùng một cụm từ nhưng rất chuẩn như với Thế Lữ tác giả dùng từ “thoát lên tiến”, ta phiêu du trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, điên cuồng cùng với Hàn Mặt Tử, đắm say với Xuân Diệu, đã có thể gợi lên cái phong vị, phong cách riêng của thơ họ.

Câu 5:

a) Cách diễn đạt của Hoài Thanh thường rất giàu hình ảnh, nhạc điệu, rất truyền cảm.

Cách dẫn dắt mạch văn rất tự nhiên, linh hoạt, độc đáo. Tác giả không dùng lí lẽ để dẫn dắt ý, mà còn dùng tình để dẫn dắt ý. Mạch văn được dẫn dắt không phải bằng ngôn ngữ khái niệm với những phương tiện liên kết của lô gích hình thức, nặng tính tư biện ta vẫn quen gặp trong các bài phê bình văn học nghiên về khoa học thuần túy. Trái lại ông dẫn dắt ý chủ yếu bằng ngôn ngữ đời sống, nương theo mạch liên kết của cảm xúc thẩm mĩ.

Diễn đạt bằng hình ảnh, bằng thứ ngôn ngữ ít mang tính khái niệm, bằng ấn tượng với cảm giác, cảm xúc rất tinh tế, uyển chuyển.

b) Đoạn văn trên đặc sắc ở mấy điểm chủ yếu sau

Khái quát rất đúng, bao quát rất cao về những hướng thoát li giải tỏa nỗi buồn của các hồn thơ mới tiêu biểu. Với mỗi nhà thơ tác giả chỉ dùng một cụm từ nhưng rất chuẩn như với Thế Lữ tác giả dùng từ “thoát lên tiến”, ta phiêu du trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, điên cuồng cùng với Hàn Mặc Tử, đắm say với Xuân Diệu, đã có thể gợi lên cái phong vị, phong cách riêng của thơ họ.

Cách diễn đạt hàm súc, giàu chất thơ. Cấu trúc câu được lấy lại, ứng chiếu vào nhau một cách nghệ thuật, kèm thêm âm điệu mượt mà, uyển chuyển, hài hòa, đã tạo cảm xúc và rung động thẩm mỹ cho người đọc.

c) Đặc điểm của đoạn này là khái quát rất chính xác, súc tích, lại được viết bằng một lối văn giàu hình ảnh và nhịp điệu. Điều đó khiến cho văn phê bình mà chẳng khác gì thơ.

Ta có thể phân tích trên hai bình diện:

+ Về ý tứ: chủ đề bao trùm là nỗ lực đào sâu mà cũng là trốn chạy vào ý thức cá nhân của Thơ mới. Chủ đề được triển khai thành hai phần chính:

Một là khái quát về hướng tìm tòi và hệ quả chung

Hai là điểm qua những gương mặt điển hình cùng những lãnh địa cá nhân điển hình của Thơ mới để thấy được sự phân hóa đa dạng cùng sự quẩn quanh bế tắc của ý thức cá nhân.

+ Về văn phòng: chú ý đến dạng ngôn từ phi khái niệm (không phải là những câu khái niệm trừu tượng) dung dị dễ hiểu mà vẫn súc tích, diễn đạt được bản chất của đối tượng. Chú ý đến cách cấu tứ: tạo ra hình ảnh một độc giả cứ theo chân những nhà thơ tiêu biểu bước vào cõi thơ riêng của mỗi vị. Đặc biệt chú ý đến nhịp điệu hết sức dồi dào của đoạn thơ này.

Luyện tập

Câu 1:

+ Cải khác nhau là chữ tôi và chữ ta. Ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là thời chữ tôi.

+ Chữ tôi trước đây nếu có thì phải ẩn mình sau chữ ta. Chữ tôi bây giờ là chữ tôi theo ý nghĩa tuyệt đối của nó.

+ “Cái tôi” bây giờ đáng thương và tội nghiệp ở chỗ nó không còn cái cốt cách hiên ngang ngày trước như cái khí phách ngang tàng của Lí Bạch, cái tự trọng trước cơ hàn như Nguyễn Công Trứ mà rên rỉ, khổ sở, thảm hại, phiêu lưu trong trường tình, thoát lên tiến, điên cuồng, đắm say, bơ vơ, ngẩn ngơ buồn, bàng hoàng mất lòng tin, … Nói chung, thơ mới nói lên cái bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm dưới những phù hiệu dễ dãi trong hồn người thanh niên.

+ Họ giải quyết bi kịch đó bằng cách gửi cả vào tiếng Việt, vì thế tiếng Việt là vong hồn các thế hệ đã qua, vì họ tin vào lời nói triết lí “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”. Vì họ cảm thấy tinh thần giống nòi cũng như các thể thơ xưa có biến thiên không sao tiêu diệt, vì phải “tìm về dĩ vãng để vin vào những gì bất diệt đủ bảo đảm cho ngày mai”..

Câu 2: Lòng yêu thơ và tình yêu nước của các nhà thơ mới (cũng chính là của tác giả Thi nhân Việt Nam) thể hiện tập trung nhất ở tình yêu tiếng Việt. Lời văn trong đoạn này bộc lộ cảm xúc nồng nhiệt, thiết tha qua hình thức điệp ngữ, điệp cấu trúc câu.

Câu 3. Bản thân tâm trạng đau buồn của các nhà thơ mới, của lớp thanh niên bây giờ cũng chứng tỏ họ bất mãn với thời cuộc, với thực trạng dân tộc đang bị nô lệ. “Xuân Diệu, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại, chỉ nói cái khổ sở, cái thảm hại của hết thảy chúng ta”. Họ đều có cái “buồn”, “xôn xao” của thời đại trong lòng. 

Bi kịch ở các nhà thơ mới ít nhiều cũng bộc lộ lòng yêu nước của họ. Họ tìm một con đường tự giải thoát như lên tiến, trốn vào ái tình, vào điên loạn mê say,… nhưng đều tuyệt vọng.

Đến với tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ là một cách để họ tỏ bày lòng yêu nước của mình. Họ tìm thấy trong tuyệt vọng chút niềm hi vọng. Họ tự an ủi: Tiếng Việt còn thì dân tộc còn; các thể thơ dù có biến thiên vẫn bất diệt thì dân tộc mãi mãi vẫn còn. “Họ dồn tình yêu quê hương trong trong tình yêu tiếng Việt”, họ “tìm về dĩ vãng để vin vào những gì bất diệt đủ bảo đảm cho ngày mai”…

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa