Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 30  | Soạn bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen) | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác
Soạn văn 11 soạn bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác

Gợi ý trả lời câu hỏi

Câu 1: Bài điếu văn (gồm bảy đoạn và một câu kết luận) được chia làm ba phần: Phần mở đầu gồm đoạn 1 và 2; phần kết thúc là đoạn 7 và câu cuối cùng, các đoạn 3, 4, 5, 6 là phần trọng tâm của bài điếu văn.

– Phần mở đầu cho thấy không gian, thời gian liên quan tới sự ra đi của Mác: có ngày có giờ (chiều ngày 14 tháng ba, vào lúc ba giờ kém mười lăm phút), có không gian (trong phòng ở, trên chiếc ghế bành). Thời gian và không gian ở đây là bình thường. Trong cái bình thường ấy là một vị nhân (= cái khác thường, phi thường). Đây là hình thức đòn bẩy để tạo ra tầm vóc cho sự nhấn mạnh. Tiếp đó là cách giới thiệu Các Mác: “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. Từ hiện đại ở đây, tức là có thể hiểu tính chất cách mạng, tính chất mới mẻ và sáng tạo của tư tưởng Mác. Hiện đại còn thể hiện sự vượt trội về tính chất, phẩm chất so với thời đại đồng thời cho thấy sự tiếc thương của những người đồng chí, đồng đội.

Phần thứ hai, cũng là trọng tâm của bài, đề cập đến những cống hiến to lớn của Các Mác đối với sự nghiệp phát triển nhân loại.

– Phần thứ ba, đề cập tới các giá trị tổng quát của những cống hiến của Mác. Những cống hiến đó đều hướng vào mục tiêu chung là phục vụ nhân loại.

Câu 2: Những cống hiến của Mác:

– Cống hiến đầu tiên của Mác là “tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người” qua các thời kì lịch sử, mà bản chất của quy luật đó là cơ sở hạ tầng (bao gồm tư liệu sản xuất, cách sản xuất tư liệu sản xuất, trình độ phát triển kinh tế,…) quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội (bao gồm các hình thức, thể chế nhà nước, tôn giáo, văn học nghệ thuật,…).

Cống hiến thứ hai là “tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra”. Đó là quy luật về giá trị thặng dư.

– Cống hiến thứ ba, qua cách lập luận của Ăng-ghen, là cống hiến quan trọng hơn cả. Đó là sự kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, biến các lí thuyết cách mạng khoa học thành hành động cách mạng, bởi vì “khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng” và “trước hết Mác là một nhà cách mạng”, ở Mác “đấu tranh là hành động tự nhiên”.

Những cống hiến này được sắp xếp theo một trật tự tăng tiến, cống hiến sau lớn hơn cống hiến trước, mặc dù chỉ có được một trong các cống hiến ấy cũng đã trở thành vĩ nhân rồi. Để làm nổi bật cống hiến của Mác, Ăng-ghen đã so sánh các cống hiến ấy với cống hiến của Đác-uyn, của các nhà khoa học khác cùng thời đại. Thế kỉ XIX, ở phương Tây, là thế kỉ của nhiều phát minh lớn, quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các cống hiến của Mác mang tầm vóc khái quát thời đại, mở đường cho thời đại. Trong ý nghĩa đó, Mác nổi bật lên hàng đầu như là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”.

Câu 3:a) Đoạn mở đầu chỉ có hai câu: Câu thứ nhất thông báo thời điểm Các Mác – một vĩ nhân qua đời. Câu thứ hai cho biết sự ra đi thanh thản của bậc vĩ nhấn ấy với một niềm tiếc nuối của những người thân của Mác: “Để Mác lại một mình – vẻn vẹn chỉ có hai phút, – thế là khi trở vào phòng, chúng tôi đã thấy ông ngủ thiếp đi – thanh thản – trên chiếc ghế bành – nhưng là giấc ngủ nghìn thu”. Câu văn ở đây dường như để giãi bày tâm trạng, như để giải thích nỗi niềm thương tiếc, như để phân bua với những người đồng chí, đồng đội khác. Đoạn văn mở đầu này tạo ra không khí để thể hiện một tình cảm tiếc thương vô hạn đối với sự ra đi của Mác. Đồng thời qua đó cũng cho thấy sự kính trọng của những người bạn, những người đồng chí của Mác. 

Đoạn tiếp theo cũng chỉ có hai câu văn và cũng có chung giọng điệu tiếc thương và kính trọng ấy. Trước hết, tầm vóc nhân loại của Mác cũng được khẳng định: “con người đó mất đi là một tổn thất không sao lường hết được đối với giai cấp vô sản đang đấu tranh ở châu Âu và châu Mĩ, đối với khoa học lịch sử”. Ở đây, Mác hiện ra dưới hai hình thức: một là nhà cách mạng của giai cấp vô sản và hai là nhà khoa học lịch sử. Kết cấu trùng điệp được sử dụng ở đây để nhằm nhấn mạnh tính chất vĩ nhân của Mác:

Con người đó – ra đi là một tổn thất (không sao lường hết được) – đối với giai cấp vô sản đang đấu tranh ở châu Âu và châu Mĩ – đối với khoa học lịch sử

Từ đó, cái chết ấy tạo ra một nỗi trống trải đối với nhân loại, đối với khoa học. Sự kính trọng và thương tiếc được nhân lên nhiều lần. Cái chết của C. Mác trở thành sự mất mát lớn của nhân loại. Đây cũng là một hiệu quả nghệ thuật mà kết cấu trùng điệp tạo ra. 

b) Thông báo về cái chết – đánh giá sự nghiệp của người quá cố . bày tỏ sự tiếc thương người đã khuất và khai thác biện pháp lập luận theo lối kết cấu tầng bậc kết hợp so sánh; có thể thấy qua mô hình.

Giống như:

– Đáchuyn đã tìm ra truy luật phát triển của thế giới hữu cơ.

– Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người. Nhưng không phải chỉ có thế thôi… Ta có thể mô hình hoá: Giống như A đã… (thi) B đã…

Nhưng không phải chỉ như A (mà) B còn…

Ở đây Mác được so sánh với các vĩ nhân khác cùng thời đại, với những thành tựu khoa học nổi tiếng của thời đại đó. Đây không phải là sự so sánh vụn vặt, tầm thường mà là sự so sánh đặc biệt: so sánh với những tinh hoa của cùng thời đại, so sánh với những phát minh và cống hiến quan trọng mà không phải ai cũng làm được và không phải đã có từ thời đại trước. Những con người cũng như những thành quả khoa học được đưa ra so sánh là những con người, những thành tựu tạo nên tầm vóc con người, tạo ra đỉnh cao của thời đại. Cho nên cách so sánh ở đây cũng rất đặc biệt: Mác được so sánh với các đỉnh cao cùng thời và Mác không dừng ở vị trí đỉnh cao nhân loại (qua những con người cụ thể, chẳng hạn, vách uyn) là còn vượt qua những đỉnh cao ấy. Bản thân Mác, do đó, trở thành đỉnh cao của mọi đỉnh cao, trở thành vĩ nhân của mọi vĩ nhân, trở thành “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. Đây cũng chính là hiệu quả nghệ thuật mà biện pháp kết cấu tầng bậc kết hợp so sánh tạo ra. Cũng cần lưu ý là sự so sánh ở đây cũng những tính chất một sự so sánh trùng điệp, tạo ra hiệu quả tăng cấp thông qua hàng loạt từ ngữ so sánh liên tiếp, không ngừng).

Cách so sánh ở đây trước hết được đặt từ cấp độ ngang bằng, tạo ra sự đối sánh song song nhằm dụng ý nhấn mạnh:

Giống như A đã… thì B (cũng) đã… theo kiểu: Nếu A đã… thì B cũng…

Đặc biệt sau về B là một sự liệt kê không chỉ kết quả mà còn phân tích, chỉ ra ý nghĩa của kết quả ấy nữa, tạo ra một sự trùng điệp có hiệu quả nghệ thuật rất cao.

Tiếp theo sự so sánh tương đồng là so sánh vượt trội mà sự khẳng định được thể hiện ngay trong câu: “Nhưng không chỉ có thế thôi”. Cách lập luận được thể hiện ở chỗ không chỉ nêu luận điểm mà còn ngay sau đó đưa ra một sự chứng minh đầy sức thuyết phục: “Mác cũng tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra”. Tác giả cũng ngay sau đó chỉ ra ý nghĩa to lớn mà Mác phát hiện: đó là một ánh sáng để đối lập lại bóng tối mà “các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa đều mò mẫm”. Sự so sánh đó còn được nhấn mạnh nhiều lần ngay trong các đoạn tiếp theo. 

Với tư cách là một nhà nghiên cứu khoa học thì những phát kiến của Mác là vô giá và tên tuổi của ông đã xứng đáng lưu vào sử sách. Nhưng nếu nhận thức về Mác như vậy thì chưa thấy hết sự vĩ đại của Mác, cũng như chưa thấy hết được sự đau xót thương tiếc của Ăng-ghen đối với Mác. Cần phải hiểu thêm Mác từ hai phương diện: con người của phát minh khám phá và con người của hoạt động thực tiễn. Giữa hai con người ấy, giữa hai phương diện ấy là một mối quan hệ biện chứng nhân quả hết sức chặt chẽ. Bởi vì, như chính tác giả nhấn mạnh thì: “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. “Bởi lẽ trước hết Mác là một nhà cách mạng”.

Tìm hiểu khía cạnh thứ hai trong con người Mác: khía cạnh con người hoạt động thực tiễn: “Bằng cách này hay cách khác, (ông) tham gia vào việc lật đổ xã hội tư sản và các thiết chế nhà nước do nó dựng nên, tham gia vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại mà ông là người đầu tiên đem đến cho giai cấp ấy ý thức về địa vị và yêu cầu của mình, ý thức về điều kiện để tự giải phóng, đó thật sự là sứ mệnh thiết thân của cuộc đời ông”. Bởi vì: “Đấu tranh là hành động tự nhiên của Mác”.

Bài điếu văn này đề cao hình ảnh của Các Mác nhưng tác giả không nói nhiều về cái chết, và đây là khía cạnh độc đáo của bài điếu văn, nhấn mạnh ý nghĩa của sự sống, ý nghĩa của cuộc đời Mác và sự bất tử của những đóng góp sáng tạo mà Mác đã cống hiến cho nhân loại.

Đây cũng là chỗ khác biệt giữa bài điếu văn này với những bài điếu văn thông thường khác mà chúng ta đã được biết. Cuộc đời của Mác với những cống hiến quan trọng của ông cũng mang tầm vóc nhân loại. Đây là kiểu con người hiếm hoi mà nhân loại đã sinh ra để làm đẹp cho nó.

Câu 4 :Thái độ và tình cảm của Ăng-ghen đối với Mác.

Thái độ ở đây là đề cao, là ca ngợi; tình cảm ở đây là tình cảm tiếc thương xuất phát từ đáy lòng.

Ở đây trong việc trình bày công lao (tức là trình bày các phát hiện của Mác) đã có kết hợp với sự ca ngợi các công lao đó. Đồng thời, ca ngợi cũng chính là khẳng định và thể hiện sự thương tiếc của Ăng-ghen đối với Mác. (Việc phân tích nghệ thuật của các đoạn đã trình bày ở câu 3.)

Kết thúc bài điếu văn là một tiếng khóc bày tỏ tình cảm tiếc thương dưới hình thức một lời cầu nguyện: “Tên tuổi và sự nghiệp của ông đời đời sống mãi !”.

Câu 5: Tìm hiểu cách lập luận của Ăng-ghen để chứng minh cho kết luận” […ông có thể có nhiều kẻ đối địch, nhưng chưa chắc đã có một kẻ thù riêng lào cả”. Cách lập luận được đưa vào ba khía cạnh:

– Mác chống lại ai: Mác chống lại bất công, chống lại cường quyền và bạo quyền. Mác “tham gia vào việc lật đổ xã hội tư sản và các thiết chế nhà nước do nó dựng nên”

– Mác bênh vực ai: Mác bênh vực cho những người lao động, những người cùng khổ. Mác “tham gia vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại mà ông là người đầu tiên đem đến cho giai cấp ấy ý thức về địa vị và yêu cầu của mình, ý thức về điều kiện để tự giải phóng”. Nói cách khác là Mác đem đến cho họ niềm tin vào hạnh phúc trong một thế giới mới, thế giới mà ở đó người lao động thực sự là chủ nhân của xã hội.

Những cống hiến của Mác có lợi cho ai: những cống hiến của Mác là tài sản chung của nhân loại. Những cống hiến ấy không chỉ có giá trị lí luận mà nó còn có giá trị hành động, góp phần mở đường cho nhân loại tiến lên. | Vì hoạt động của Mác không phải để phục vụ cho quyền lợi của cá nhân mà cho quyền lợi của toàn dân, do đó, “ông có thể có nhiều kẻ đối địch, nhưng chưa chắc đã có một kẻ thù riêng nào cả”.

Luyện tập

Câu 1: Hướng tới mục đích rèn luyện kĩ năng tập viết văn. Do đó, các em cần đọc các tài liệu cần thiết và có thể có trong phạm vi nhà trường. Qua đó nêu những cảm nhận những đóng góp của Mác đối với nhân loại.

Câu 2: Để lập dàn ý của bài điếu văn, các em cần đọc kĩ nội dung sau đây là những gợi ý

+ Thời gian

+ Hoàn cảnh viết bài điếu văn

+ Nêu sơ lược về cuộc đời và những cống hiến của Mác…

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa