Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Tương tư (Nguyễn Bính)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Tương tư (Nguyễn Bính) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 24  | Soạn bài Tương tư (Nguyễn Bính)| Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Tương tư
Soạn văn 11 soạn bài Tương tư

Gợi ý trả lời câu hỏi Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)

Câu 1. Phong cách thơ 

Trong các nhà thơ mới, Nguyễn Bính được xem là tiếng thơ “quen nhất”, ông vừa là tiếng nói của thời đại mới lại vừa như đã có sẵn đâu đó trong dân gian bao đời rồi. Nguyễn Bính đã tích hợp và phát huy một cách xuất sắc những truyền thống dân gian trong sáng tạo thơ mới. Dù viết về những cảnh sắc hương thôn hay những mảnh đời lỡ dở, về cố nhân hay cố hương,…ở đâu ông cũng làm dấy lên được hồn quê. Hồn quê ấy hòa lẫn nhiều yếu tố thuộc cả nội dung và hình thức, nhưng nổi bật là sự hòa quyện giữa giọng điệu quê với lối nói quê và lời quê.

Câu 2. Thể thơ lục bát

Một dấu ấn rất sâu đậm trong phong cách Nguyễn Bính là thể thơ lục bát. Trong đời sống thơ ca vẫn có hai phong cách lục bát vừa song hành vừa xâm nhập vào nhau: lục bát dân gian và lục bát cổ điển. Nếu lục bát dân gian điển hình ở ca dao, thì lục bát cổ điển lại điển hình ở Truyện Kiều của Nguyễn Du. Việc tổ chức lời thơ lục bát cổ điển nghiêng về điệu ngâm, thì lục bát dân gian nghiêng về điệu nói.

Trong phong trào thơ mới, nếu lục bát của Huy Cận cổ điển hơn, thì lục bát Nguyễn Bính lại dân gian hơn. Nguyễn Bính được xem là

một thi sĩ có sở trường, thậm chí có bản năng về lục bát. Ông viết lục bát nhanh và dễ như lời nói thường.

Dáng điệu những câu lục bát của ông vừa rất thời đại vừa phảng phất ca dao, mang được cái hồn của ca dao ở giọng điệu, cách ví von, cách lựa chọn và tổ chức lời thơ,…

Câu 3: Tâm trạng tương tư

Tương tự là nỗi nhớ nhau của tình yêu đôi lứa. Nhưng trên thực tế “tương tự thường được dùng để diễn tả nỗi nhớ đơn phương. Tương tự là tâm trạng nảy sinh khi có sự xa cách về không gian và cả về thời gian. Ngọn nguồn của nỗi tương tự là khao khát được gần kề, được chung tình. Vì thế tâm lý tương tự thường có hai mặt trái ngược nhau mà biện chứng với nhau. Một mặt: khoảng cách được nhân lên gấp bội lần, nó trở nên diệu vợi xa ngái hơn trong sự thực, mặt khác nhớ thương chính là một nỗ lực để vượt lên khoảng cách nó giăng qua thời gian và không gian như một nhịp cầu mãnh liệt vượt qua mọi xa cách.

 Bài thơ Tương tự được rút trong tập Lỡ bước sang ngang (1940).

Câu 1: Xác định nhân vật trữ tình của bài thơ và nội dung cảm xúc được nhân vật trữ tình bày tỏ.

Gợi ý

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một chàng trai quê thôn Đoài. Đây là nhân vật trữ tình nhập vai, không trùng với tác giả nhưng không hoàn toàn đối lập, cách biệt, xa lạ với tác giả. Nội dung cảm xúc được nhân vật trữ tình bày tỏ trong bài là nỗi tương tự, nỗi nhớ, nỗi khát yêu với các sắc thái đa dạng và phức tạp của nó.

Câu 2: Tìm hiểu (nhận diện – miêu tả) các cung bật diễn biến của nỗi tương tự trong lòng chàng trai thôn Đoài được thể hiện qua bài thơ.

Gợi ý

Những cung bậc của nỗi tương tự mà chàng trai thôn Đoài đã trải qua: nhớ – tự phân tích nỗi nhớ – trách móc, ngờ vực, băn khoăn – ngậm ngùi thương mình, mong được chia sẻ – đợi chờ phấp phỏng và khao khát gặp gỡ sum vầy.

Câu 3: Phân tích lời trách móc khá đặc biệt của chàng trai thôn Đoài đối với cô gái thôn Đông ở đoạn thơ từ dòng 5 đến dòng 12.

Gợi ý

Lời trách móc khá đặc biệt của chàng trai. Bề ngoài, điều này là vô lí. Trong tình yêu người chủ động đi đến phải là anh con trai, đằng này anh lại trong vai thụ động ngồi đợi chờ. Đã thụ động đợi chờ lại còn trách móc.

Nhưng bề sâu, thì lại không vô lí. Bởi lẽ, đây là một thi phẩm tác giả tạo ra một tình huống trữ tình để bày tỏ nỗi niềm, chứ không câu nệ vào thực tế. Tác giả phải đặt chàng trai vào vai thụ động chờ đợi mới có thể bộc bạch được tâm trạng tương tự của người trai quê như thế. Thứ hai, lối trách này không phải vì ghét, không giống như sự quy kết trách nhiệm, đổ lỗi thông thường. Mà trách vì yêu. Do quá mong nhớ, bị nỗi nhớ mong giày vò người trong cuộc dễ tưởng mình bị hờ hững, nên sinh ra “hờn ngược trách xuôi” thôi, không có hàm ý ghét bỏ. Nói cách khác trách chỉ là một cách bộc bạch tình yêu, Người đời cũng gọi thế là “trách yêu”.

Câu 4: Nêu bật sự tinh tế trong cách sử dụng ngôn từ của tác giả ở hai dòng thơ: Ngày qua ngày lại qua ngày, 1 Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

Gợi ý

– Tâm trạng đợi chờ sốt ruột và mòn mỏi không tách rời với việc diễn tả thời gian. Nổi bật lên là cách ngắt nhịp, phép lặp, giọng kể lể và việc tả cảnh ngụ tình, dùng sự biến đổi không gian để biểu hiện thời gian.

+ Câu lục: Ngày qua ngày lại qua ngày

Nhịp 2 1 2 1 2 thông thường của câu lục (trong lục bát truyền thống) đã được ngắt nhịp thành 37 3: Ngày qua ngày 7 lại qua ngày. Ý và lời vế sau lặp lại vế trước. Cách ngắt nhịp này khiến chữ “lại”

đầu nhịp sau trở thành điểm nhấn của ngữ điệu. Nó gợi được dòng thời gian trôi qua hết sức chậm chạp, ngày mới chỉ còn là sự lặp lại ngày cũ một cách chán ngán và vô vọng. Cả việc ngắt nhịp và lắp lại vế câu và nốt nhấn giọng ở chữ “lại” khiến cho giọng thơ vang lên như một lời than thở kể lể ngán ngẩm. Tất cả những điều đó đã làm hiện lên hình ảnh một người con trai với tâm trạng nóng lòng chờ trông đến mòn mỏi.

+ Câu bát: Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Câu thơ diễn tả thời gian và tâm trạng thật tinh tế và ý nhị. Thời gian diễn ra ở câu trên đã chậm chạp sốt ruột, nhưng mới qua lời kể lể thôi. Đến câu này, thời gian mới hiện lên sinh động. Thời gian có màu, đúng hơn thời gian hiện lên qua việc chuyển màu: lá xanh chuyển thành cây lá vàng. Ngày anh bắt đầu đợi chờ, cây hãy còn xanh, đến nay lá xanh đã ngả vàng cả rồi, thế mà vô vọng vẫn hoài vô vọng. Thời gian và tâm trạng cứ thành “cừu thù” của nhau: thời gian càng chậm, tâm trạng càng nặng nề; tâm trạng càng mỏi mòn nôn nóng, thời gian càng chậm chạp lê thê.

Điều tinh tế nhất là ở chữ “nhuộm”, thứ nhất nó diễn tả được thời gian chậm chạp. Có thể so sánh với chữ “nhuộm” trong câu thơ sau của Nguyễn Du để làm nổi bật điểm này: “Người lên ngựa kẻ chia bào – Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, “Nhuốm” nói lên sự biến đổi sắc màu mới diễn ra, đang diễn ra, còn chưa hoàn tất. Sắc màu sự vật biến đổi chủ yếu ở mặt bề ngoài. Còn “nhuộm” có vẻ đã hoàn tất, thời gian dài tới mức đủ cho màu này chuyển hẳn sang màu khác, hoàn toàn định hình rồi. Thứ hai chữ “nhuộm” để ngỏ chủ thể. Ai nhuộm? Chủ thể này hàm ẩn. Không hẳn thời gian, cũng không hẳn là sự chuyển biến nội tại của cây lá. Mà chính là nỗi tương tự. Tương tự đã khiến lòng người héo hon, đã nhuộm cây kia héo úa. Kẻ tương tự và cái cây ấy có mối tương giao kỳ lạ. Cây vừa là nhân chứng cho mối tương tự, là đồng minh của kẻ tương tự, là nạn nhân của bệnh tương tự, là hiện thân của nỗi tương tự đó. Có thể xem cái cây kia cũng là cây tương tự được, lối thể hiện thật tinh tế và ý nhị.

Câu 5: Với Tương tự Nguyễn Bính đã khéo tạo ra một không gian nghệ thuật thích hợp để mối tình quê được phô diễn, bộc lộ tự nhiên, trọn vẹn. Hãy chứng minh.

Gợi ý

Trong bài thơ Nguyễn Bính đã tạo dựng được một không gian nghệ thuật riêng phù hợp với mối tình chân quê mà ông nói tới. | Ta thấy xuất hiện ở đây hình ảnh bao trùm của thôn Đoài, thôn Đông với mái đình, giàn trầu, hàng cau liên phòng cùng những cây lá đổi màu theo bước mùa đị,… Nhờ nó mà người đọc mới có được ấn tượng đặc biệt đến vậy về nỗi mong nhớ mơ hồ xa xôi, cách tínhđếm thời gian theo dấu ấn của mùa trên cây cỏ, chút ỡm ờ trong cách biểu đạt cảm xúc của chàng trai. Không gian làng quê lúc này không tồn tại như một bối cảnh thuần túy mà tự nó cũng toát lên, cũng hàm chứa một nội dung sâu xa.

Câu 6: Sự xuất hiện của hệ thống hình ảnh cặp đôi trong bài thơ có những điểm gì đáng chú ý? Hãy cho biết cái hay của lối cấu trúc song hành ở bốn dòng cuối.

Gợi ý

– Khảo sát và thống kê những hình ảnh cặp đôi: thôn Đoài – thôn Đông, một người – một người, gió mưa – tương tự, tôi – nàng, bên ấy – bên này, hai thôn – một làng, bến – đò, họa khuê các – bướm giang hồ, nhà anh – nhà em, giàn giầu – hàng cau, cau thôn Đoài – giầu thôn Đông,… Hệ thống hình ảnh này giàu màu sắc dân gian, biểu đạt rất hay khát vọng lứa đôi của các đối tượng được giả định là bình dân.

Trình tự xuất hiện những cặp đôi ấy từ xa đến gần, cuối cùng dừng lại ở cặp đôi giầu – cau. Điều ấy cho thấy rõ, bên dưới nỗi tương tự là niềm khao khát gần kề, khao khát chung tình, khao khát nhân duyên. Tình yêu gắn với hôn nhân là một đặc điểm của quan niệm về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính. Điều này thêm một bằng chứng để khẳng định chất truyền thống, chất chân quê thấm rất sâu vào hồn thơ Nguyễn Bính.

Bốn dòng cuối của bài thơ được tổ chức thành các vế song song. Hai dòng trên muốn nói: tiền đề của sự giao kết đã ngầm chứa sẵn trong thực tế khách quan. Nếu cau hay trầu chỉ trơ trọi một mình thì chúng sẽ mất hết giá trị. Bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi bỏ lửng nhưng ta vẫn đọc ra lời đáp trong mong chờ và tin tưởng: cau thôn Đoài không nhớ, không làm bạn với trầu không thôn Đông thì còn nhớ, còn làm bạn với cái gì, với ai được nữa!

Câu 7: Tìm hiểu dấu ấn của nền văn hóa truyền thống ở cách nhìn đời, cách cảm thụ thiên nhiên và phô bày cảm xúc trong bài thơ.

Gợi ý Bài thơ mang dấu ấn văn hóa truyền thống khá đậm trong bài thơ

Nhân vật trữ tình tự nhìn thấy mình như một bộ phận của thiên nhiên vũ trụ và hiểu rõ mối tượng quan hòa hợp giữa các đối tượng, sự vật.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa