Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Lai tân (Hồ Chí Minh)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Lai tân (Hồ Chí Minh) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 24  | Soạn bài Lai tân (Hồ Chí Minh) | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Lai tân 8
Soạn văn 11 soạn bài Lai tân 8

Gợi ý trả lời câu hỏi

 Lai Tân là một bài thơ được sáng tác trong khoảng bốn tháng đầu của thời gian Hồ Chí Minh bị giam giữ tại các nhà tù của bạn Quốc dân đảng Trung Quốc ở Quảng Tây.

Lại Tân là bài thơ sử dụng nghệ thuật châm biếm hết sức sắc sảo, độc đáo, đạt hiệu quả cao, không chỉ đả kích một vài viên quan lại cụ thể, cá biệt mà lên án cả một bộ máy thống trị đã trở nên thôi nát một cách phổ biến ở Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch.

Nên lưu ý các điểm sau:

a. Về mặt kết cấu, bài thơ gồm hai phần.

Phần một là ba câu thơ tự sự: Ban trưởng ngày ngày đánh bạc, ảnh trưởng thì giải tù và bóc lột họ, Huyền trưởng thì đêm đêm chong đèn “làm việc công” (chắc là hút thuốc phiện).

Phần thứ hai là một câu trữ tình: nhà thơ phát biểu cảm tưởng chung của mình trước hiện tượng trên.

b)Giọng thơ có vẻ bình thản, khách quan, dường như có gì thì nói thế thôi, không có ý giễu cợt, phê phán ai cả.

Đòn đả kích tạo nên bởi mâu thuẫn giữa ba câu tự sự và câu kết.

 Ba câu trên là cảnh thối nát và phải nói là không bình thường, là loạn đối với bộ máy chính quyền chân chính, nghiêm chỉnh. Câu kết nói rằng: “Trời đất tại Tân vẫn thái bình”, không có ý gì là bất thường cả, guồng máy cai trị ở đây xưa nay vẫn phân công, phân nhiệm rành mạch như thế (Bar trưởng đánh bạc, Cảnh trưởng cứ ăn tiền, Huyện trưởng cứ hút thuốc phiện) và vẫn cứ vận hành đều đều như thế, rất yên ổn, rất thái bình.

Thế là sự thối nát của bộ máy chính quyền đã đến mức hết sức trầm trọng, nghĩa là rất phổ biến, trở thành nếp sống, trở thành bình thường đến nỗi kẻ làm bậy mà thái độ cứ như không vậy,

Nếu ta hiểu rằng, lúc Hồ Chí Minh làm bài thơ này trong nhà tù Quảng Tây là những năm 1942-1943, thì Trung Quốc đang bị phát

xít Nhật xâm lược, mới càng thấy đòn đả kích của bài thơ “đau” như thế nào,

Giọng thơ có vẻ bình thản, “vô cảm” thì đòn đả kích càng mạnh mẽ, quyết liệt.

Câu 1: Anh (chị) có nhận xét gì về kết cấu của bài thơ?

Gợi ý Bài thơ trào phúng được kết cấu làm hai phần.

Phần một là ba câu thơ tự sự: Bàn trưởng ngày ngày đánh bạc, Cảnh trưởng thì giải tù và bóc lột họ, Huyện trưởng thì đêm đêm chong đèn “làm việc công” (chắc là hút thuốc phiện).

Phần hai là một câu trữ tình: nhà thơ phát biểu cảm tưởng chung của mình trước hiện tượng trên.

Như vậy ba câu đầu và câu cuối có chức năng diễn đạt khác nhau: ba câu đầu mô tả, trần thuật để lật tẩy cái bản chất xấu xa, sâu mọt, câu cuối bình luận một cách mỉa mai bằng lối nói ngược. Ba câu đầu và câu cuối, xét ở phương diện kết cấu của bài thơ, tạo ra một cấu trúc ý nghĩa vừa đối lập vừa thống nhất.

Câu 2: Ba câu thơ đầu đã lật tẩy cái bản chất sâu mọt nhem nhuốc trong bộ máy quản lí nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Lai Tân như thế nào?

Gợi ý

Ba câu đầu đã lật tẩy cái bản chất sâu mọt nhem nhuốc trong bộ máy quản lí nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Lại Tân bằng cách vạch rõ thực trạng: người thi hành công việc cải huấn giáo dục các loại tội phạm (trong đó có tội phạm cờ bạc) thì lại “chuyện đánh bạc”; người chịu trách nhiện thi hành luật pháp (Cảnh trưởng thì lại giải người loanh quanh để “kiểm ăn” (chờ nhận hối lộ, tống tiến); ông quan đầu huyện (Huyện trưởng) là “đèn giới soi xét” thì đang “chong đèn làm việc công”. Nếu hiểu theo nghĩa “làm việc công” thông thường thì ông Huyện trưởng tỏ ra hoàn toàn quan liêu, mù lòa trước thực trạng tồi tệ ở Lai Tân; nếu hiểu theo nghĩa hài hước thâm thúy (làm việc công: hút thuốc phiện) thì Huyện trưởng cũng chỉ là hạng rác rưởi, một cốt một đồng, như hai nhân vật dưới quyền ông. Cách thể hiện thái độ phê phán của tác giả đặc sắc ở chỗ vạch ra được chỗ trái ngược giữa chức vị, phận sự của mỗi nhân vật với công việc sâu mọt nhem nhuốc mà họ làm thường ngày. Sự phê phán vì vậy càng mạnh mẽ, sâu sắc.

Câu 3: Câu kết “Trời đất Lai Tân Uẫn thái bình” có mâu thuẫn gì với nội dung của ba câu đầu? Tác giả muốn nói gì khi hạ ba chữ “vẫn thái bình”? Theo anh (chị), ý nghĩa phê phán và giọng điệu của bài thơ có thay đổi gì về chất khi tác giả hạ ba chữ ấy ở câu hết? 

Gợi ý

Câu kết “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình” mâu thuẫn với nội dụng của ba câu đầu: trong thực tế “trời đất Lai Tân” rất tồi, rất tối tăm, và rất… “loạn”.

“Loạn” từ bên trong, từ bên trên. Thế mà nhà thơ lại viết “vẫn thái bình”. Sự “vẫn thái bình” nếu có, có thể là sự nhìn nhận từ phía ông quan huyện bất lương, vô trách nhiệm mà thôi. 

Mâu thuẫn này được tạo ra một cách đầy dụng ý nghệ thuật. Với ba chữ “vẫn thái bình” tác giả muốn vạch trần sự thối nát vẫn được bưng bít giấu giếm, được làm ngơ của bộ máy cai trị của chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Lai Tân.

Rõ ràng ý nghĩa phê phán và giọng điệu của bài thơ có sự thay đổi về chất khi tác giả hạ ba chữ ấy ở câu kết: vẫn thái bình có nghĩa là vẫn tiếp tục tồn tại, được bưng bít, che giấu, và sẽ không bao giờ thay đổi. Hiện tượng nâng lên thành bản chất, thành một vấn đề xã hội. Sức khái quát cao, tiếng cười cũng sâu hơn.

Câu 4: Thử so sánh tiếng cười của nhà thơ trong bài thơ này với một bài thơ trào phúng khác trong Nhật kí trong tù và nhận xét về sắc điệu tiếng cười của Hồ Chí Minh trong tập thơ này.

Gợi ý

Có thể so sánh tiếng cười của nhà thơ trong bài Lai Tân với một vài bài thơ trào phúng khác thuộc Nhật kí trong tù như bị hạn chế, Cái cùm, Tù cờ bạc,… Điều quan trọng là nhận ra sắc điệu của tiếng cười trong mỗi bài. Kết luận cuối cùng có thể rút ra là tiếng cười và nói chung bút pháp thơ trào phúng của Hồ Chí Minh rất linh hoạt đa dạng, thể hiện quan niệm, thái độ của một nhà thơ cách mạng luôn có cái nhìn phát hiện, luôn đấu tranh không khoan nhượng với cái ác, cái xấu, cái phi nhân loại.

Lai tân (Hồ Chí Minh) | Tài Liệu Chùa

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa