Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Chiều xuân (Anh Thơ)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Chiều xuân (Anh Thơ) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 24  | Soạn bài Chiều xuân (Anh Thơ)| Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Chiều xuân
Soạn văn 11 soạn bài Chiều xuân

Gợi ý trả lời câu hỏi

Luyện tập

Câu 1. Đánh dấu vào các trường hợp c, d.

Câu 2: Các văn bản tiểu sử tóm tắt, điếu văn, sơ yếu lý lịch, giới thiệu, thuyết minh đều có thể viết về một nhân vật nào đấy. .

a) Tiểu sử tóm tắt và điếu văn: khác nhau về mục đích và hoàn cảnh giao tiếp. Điếu văn được viết để đọc trong buổi lễ truy điệu nên ngoài nội dung tiểu sử của người đã mất còn thêm nhiều nội dụng khác như: tiếc thương người đã mất, lời chia buồn với gia quyến,…

b) Tiểu sử tóm tắt và sơ yếu lí lịch

Cả tiểu sử tóm tắt lẫn sơ yếu lí lịch đều thuật lại những nét chính liên quan đến một người nào đấy. Tuy nhiên, hai văn bản này có những nét khác nhau:

– Sơ yếu lí lịch do chính bản thân viết, còn tiểu sử tóm tắt lại do người khác viết.

– Sơ yếu lí lịch là văn bản hành chính, thường có mẫu cố định. Nội dụng thường nhấn mạnh đến nhân thân và các mối quan hệ. Bản lí lịch cần có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Còn tiểu sử không cần nêu chi tiết mọi quan hệ xã hội mà chỉ tập trung nêu mối quan hệ có ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân người được viết tiểu sử chú trọng nhiều đến những cống hiến và đóng góp của người đó. Tiểu sử không nhất thiết phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

c) Tiểu sử tóm tắt và lời giới thiệu, thuyết minh: văn bản giới thiệu, thuyết minh có đối tượng rộng hơn (người, vật, danh lam thắng cảnh,…). Tuỳ vào đối tượng, mục đích, nội dung của văn bản giới thiệu, thuyết minh, có thể nhấn mạnh, khắc sâu những nội dung khác nhau. Về hành văn, văn bản giới thiệu, thuyết minh còn yêu cầu cách diễn đạt phong phú, giàu hình ảnh và có tính biểu cảm.

Câu 3: Các em có thể tham khảo tiểu sử tóm tắt sau:

Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) là một nhà văn, nhà viết kịch của nước ta. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khá giả có tinh thần yêu nước ở xã Dục Tú, nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội.

Khi còn là học sinh, Nguyễn Huy Tưởng tham gia phong trào yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930), ông hoang mang, không hoạt động nữa nhưng vẫn giữ một lòng yêu nước thầm kín. Năm 1935, ông làm thư kí Nhà đoan ở Hải Phòng, rồi Hà Nội, đồng thời, nuôi chí hướng viết văn để kí thác tấm lòng đối với đất nước. Trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Nguyễn Huy Tưởng được cử vào đoàn đại biểu của Tổ chức Văn hóa cứu quốc đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào. Cách mạng tháng Tám thành công, nhà văn tích cực hoạt động phong trào văn nghệ cách mạng, và là một trong những người phụ trách Hội Văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Huy Tưởng tham gia thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam và

b) Tiểu sử tóm tắt và sơ yếu lí lịch

Cả tiểu sử tóm tắt lẫn sơ yếu lí lịch đều thuật lại những nét chính liên quan đến một người nào đấy. Tuy nhiên, hai văn bản này có những nét khác nhau:

– Sơ yếu lí lịch do chính bản thân viết, còn tiểu sử tóm tắt lại do người khác viết.

– Sơ yếu lí lịch là văn bản hành chính, thường có mẫu cố định. Nội dụng thường nhấn mạnh đến nhân thân và các mối quan hệ. Bản lí lịch cần có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Còn tiểu sử không cần nêu chi tiết mọi quan hệ xã hội mà chỉ tập trung nêu mối quan hệ có ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân người được viết tiểu sử chú trọng nhiều đến những cống hiến và đóng góp của người đó. Tiểu sử không nhất thiết phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

c) Tiểu sử tóm tắt và lời giới thiệu, thuyết minh: văn bản giới thiệu, thuyết minh có đối tượng rộng hơn (người, vật, danh lam thắng cảnh,…). Tuỳ vào đối tượng, mục đích, nội dung của văn bản giới thiệu, thuyết minh, có thể nhấn mạnh, khắc sâu những nội dung khác nhau. Về hành văn, văn bản giới thiệu, thuyết minh còn yêu cầu cách diễn đạt phong phú, giàu hình ảnh và có tính biểu cảm.

Các em có thể tham khảo tiểu sử tóm tắt sau:

Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) là một nhà văn, nhà viết kịch của nước ta. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khá giả có tinh thần yêu nước ở xã Dục Tú, nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội.

Khi còn là học sinh, Nguyễn Huy Tưởng tham gia phong trào yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930), ông hoang mang, không hoạt động nữa nhưng vẫn giữ một lòng yêu nước thầm kín. Năm 1935, ông làm thư kí Nhà đoan ở Hải Phòng, rồi Hà Nội, đồng thời, nuôi chí hướng viết văn để kí thác tấm lòng đối với đất nước. Trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Nguyễn Huy Tưởng được cử vào đoàn đại biểu của Tổ chức Văn hóa cứu quốc đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào. Cách mạng tháng Tám thành công, nhà văn tích cực hoạt động phong trào văn nghệ cách mạng, và là một trong những người phụ trách Hội Văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Huy Tưởng tham gia thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam vàgóp phần xây dựng nền văn nghệ kháng chiến ngay từ những ngày đầu. Sau khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, nhà văn viết nhiều tác phẩm phản ánh sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới và quay trở lại với một đề tài mà ông đã ấp ủ từ lâu: đề tài về cuộc chiến đấu quyết tử trong lòng Hà Nội mùa đông năm 1946.

Trong gần 20 năm sáng tác, với nhiều thể loại khác nhau, Nguyễn Huy Tưởng đã đóng góp cho văn học Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị, như tiểu thuyết “Đêm hội Long Trì” (1942), kịch “Vũ Như Tô” (1941), kịch “Bắc Sơn” (1946), “Kí sự Cao – Lạng”) (1951) và bộ tiểu thuyết lớn viết dở dang “sống mãi với Thủ đô” xuất bản năm 1961, khi nhà văn đã qua đời. Sáng tác của ông có khuynh hướng lịch sử khá rõ và nói chung là đều đậm đà chất lãng mạn tích cực. Về sau, chất lãng mạn này được bồi đắp thêm bằng chất hiện thực phong phú của đời sống cách mạng. Tác phẩm của ông, dù viết về đề tài lịch sử hay thời sự đều thấm đượm chủ nghĩa yêu nước, lí tưởng anh hùng. Ông có lối diễn đạt trong sáng, giọng văn trầm tĩnh, đôn hậu. Nguyễn Huy tưởng còn sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị cho thiếu nhi, phần nhiều là truyện lịch sử, hoặc kể lại những truyền thuyết hay cổ tích mà tiêu biểu là cuốn “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”.

(Theo Từ điển văn học, tập II, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984)

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa