Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Chiều tối (Hồ Chí Minh)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Chiều tối (Hồ Chí Minh) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 23  | Soạn bài Chiều tối (Hồ Chí Minh)

Soạn văn 11 soạn bài Chiều tối
Soạn văn 11 soạn bài Chiều tối

Gợi ý trả lời câu hỏi

Câu 1: So sánh bản dịch thơ với bản dịch nghĩa, đối chiếu với nguyên tác có thể thấy câu 1 dịch đạt; câu 2 không dịch được chữ cô trong cô vân, mạn mạn dịch trôi nhẹ chưa đúng; câu 3 thừa chữ tối; câu 4 dịch tương đối thoát ý.

Câu 2: Chiều tối là thời khắc cuối cùng của một ngày và với một tù nhân như Bác, đây cũng là chặng cuối cùng của một ngày đày ải. Thời gian và hoàn cảnh như thế dễ gây nên trạng thái mệt mỏi,

chán chường, vậy mà ở đây cảm hứng thơ lại đến với Bác thật tự nhiên. Dường như lúc ấy người đi ngước mắt nhìn lên bầu trời và chợt thấy cánh chim mỏi mệt bay về tổ ấm, chòm mây chầm chậm trôi qua lưng trời – khung cảnh thiên nhiên đã được phác hoạ bằng những nét chấm phá theo bút pháp cổ điển (dùng điểm nói diện). Trong cảnh tượng ấy, tuy bài thơ không tả màu sắc mà người đọc vẫn cảm thấy rừng núi chiều tối thật âm u, không hề gợi âm thanh mà nghe thật vắng vẻ, quạnh hiu.

Trong thơ ca cổ điển phương Đông, cánh chim bay về tổ, về núi rừng thường mang ý nghĩa là biểu tượng cho buổi chiều tà. “Chim bay về núi, tối rồi”. (Ca dao), “Chim hôn thoi thót về rừng” (Truyện Kiều)… Như vậy, cánh chim chiều vừa mang ý nghĩa không gian, vừa mang ý nghĩa thời gian. Trong thơ Bác cũng thế, có khác chẳng

đây không phải cánh chim bay (quan sát trạng thái vận động bên ngoài của sự vật) mà là cánh chim mỏi (cảm nhận rất sâu trạng thái bên trong của sự vật, một cảm nhận của con người hiện đại trên cơ sở ý thức sâu sắc của cái tôi cá nhân trước ngoại cảnh). Có thể thấy một sự gần gũi, tương đồng: Suốt một ngày bay đi kiếm ăn, cánh chim đã mỏi và người tù cũng mỏi mệt sau một ngày vất vả lê bước đường trường – trong ý thơ ấy có biết bao sự hoà hợp, cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình yêu thương mênh mông của Bác dành cho mọi sự sống trên đời.

Câu thơ tiếp theo cần hiểu đúng nghĩa là “Chòm mây lẻ loi lững lờ trôi qua lưng trời” (bản dịch đã không diễn tả được vẻ đơn độc và nhịp bay chậm chậm của chòm mây qua những chữ cố vấn mạn mạn). Câu thơ gợi nhớ thơ Thôi Hiệu: “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (Hoàng Hạc Lâu) và thơ Nguyễn Khuyến “Tầng mây lơi lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu); có điều, trong thơ Bác đó không phải là áng mây trắng ngàn năm gợi sự vĩnh hằng, cũng không phải là tầng mây lơ lửng gợi sự không vĩnh viễn mà mang bao nỗi khắc khoải mơ hồ của con người trước cõi hư không. Đây chỉ là một chòm mây quen thuộc trên bầu trời, nó gợi cảm rất nhiều về cái cao rộng, trong trẻo, êm ả của một chiều thu nơi núi rừng Quảng Tây. Với chòm mây ấy, không gian như mênh mông vô tận và thời gian như ngừng trôi. Phải có một tâm hồn thật ung dung, thư thái thì người tù mới có thể dõi theo một chòm mây thong thả giữa bầu trời

bao la. Hơn thế, chòm mây như có hồn người, như mang tâm trạng, nó cô đơn, lẻ loi và lặng lẽ, lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiều, nó mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa: cánh chim mải miết bay về rừng xanh, chòm mây trôi chầm chậm như ở lại giữa tầng không.

Hai câu này gọi tới hai câu trong bài Độc toạ Kính Đình sơn (Một mình ngồi trên núi Kính Đình) của Lí Bạch:

Chúng điểu cao phi tận

Cô vận độc thứ nhàn.

Xuân Diệu dịch:

Bầy chim một loạt bay cao

Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình. 

Có thể thấy, nếu cánh chim trong thơ Lí Bạch bay mất hút vào cõi vô tận thì trong thơ Bác đó là cánh chim của đời sống hiện thực, nó bay theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống: sáng bay đi kiếm ăn, tối bay về rừng tìm chốn ngủ. Áng mây của Lí Bạch bay nhàn tản gợi cảm giác thoát tục, còn áng mây trong bức tranh cảnh chiều hôm của Bác toát lên cái vẻ yên ả, thanh bình của đời sống thường ngày. Dù sao, hai câu thơ vẫn thấm thía nỗi buồn vì cảnh buồn và người buồn, vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chân mây đơn độc trôi chậm chậm về phía trời xa gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người, vì không biết tới bao giờ nhà thơ mới được tự do như cánh chim và chòm mây trên bầu trời kia. Tuy vậy, vẻ đẹp cổ điển của hai câu thơ đã thể hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ, bởi vì nếu không có ý chí và nghị lực, không có phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần thì không thể có những câu thơ cảm nhận thiên nhiên thật sâu sắc và tinh tế như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt của tù đày.

Câu 3: Nếu trong hai câu đầu, cảnh vật hiện ra trong những nét vẽ chấm phá, phần nào mang tính chất ước lệ cổ điển thì hình ảnh người phụ nữ lao động ở đây lại được gợi tả một cách cụ thể, sinh động như một bức tranh hiện thực. Chính nét vẽ đời thường ấy làm cho bài thơ thêm dáng vẻ hiện đại, hơn thế, trong sự hình dung về cự li khoảng cách với cánh chim và chòm mây (ở viễn cảnh), hình ảnh cô gái xay ngô, hình ảnh con người (ở cận cảnh) nổi bật lên như là trung tâm của bức tranh thiên nhiên.

 Bức tranh vẽ cái thời khắc đầu đêm bên xóm núi cho thấy Bác đã quên cảnh ngộ đau khổ của mình để cảm nhận cuộc sống của nhân dân. Nó nói lên sự quan tâm, tình thương của Bác với những người lao động nghèo mà sự làm việc nặng nhọc được biểu hiện qua âm điêu khắc khổ của lời thơ. Câu thơ thứ ba nguyên nghĩa là “Cô gái xóm núi xay ngô” – đó là một câu miêu tả chân thật, giản dị như đời sống hằng ngày. Đến đây bài thơ từ bức tranh thiên nhiên chuyển sang bức tranh đời sống, từ cảnh trời mây chim muông chuyển sang cảnh con người và lại là con người lao động – đấy là xu hướng vận động trong cấu trúc của bài thơ. Thực ra trong những bài thơ vịnh cảnh chiều hôm nổi tiếng thời xưa cũng thấp thoáng bóng người:

Lom khom dưới núi, tiều bài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

(Bà Huyện Thanh Quan, Qua Đèo Ngang) Nhưng ở đó có con người mà thiếu vắng sự sống, hình ảnh con người chỉ làm tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của đất trời thiên nhiên. Còn ở đây, trong bài thơ của Bác, hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khoẻ mạnh, sống động và chính cuộc sống lao động bình dị đó càng trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao giữa núi rừng chiều tối âm u, heo hút. Nó đưa lại cho người đi đường lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui và hạnh phúc trong lao động của con người, con người ấy tuy vất vả mà tự do.

Những chữ ma bao túc ở cuối câu 3 được điệp vòng ở đầu câu 4 bao túc ma hoàn đã tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô – qua đó có thể thấy cô gái thật chăm chỉ, kiên nhẫn, cần mẫn với công việc của mình. Đáng chú ý hơn, đến câu thơ này, không gian rộng mở ban đầu ngày càng được thu nhỏ lại: từ cảnh trời mây bao la đến cảnh cô gái xay ngô và cuối cùng là cảnh bếp lửa hồng. Đồng thời câu thơ cũng xác định rõ hơn sự vận động của thời gian, nói như GS. Lê Trí Viễn: “Nguyên văn không nói đến tối mà tự nhiên nói đến: thời gian trôi dần dần theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay của cối ngô, quay quay mãi, “ma bao túc… bao tác ma hoàn…” và đến khi cối xay dừng lại thì lộ di hồng, lò đã rực hồng, tức trời tối, trời tối thì lò rực lên”. Như vậy, bếp lửa của cô gái xay ngô đã hồng lên, nghĩa là buổi chiều êm ả đã kết thúc để bước vào đêm tối, nhưng không phải đêm tối lạnh lẽo, âm u (theo quy luật cảm nhận của người xưa: ấm ngày lạnh tối) mà là đêm tối ấm áp, bừng sáng bởi ngọn lửa hồng. Nếu hình dung cả bài thơ là một bức tranh thì chính cái chấm lửa đỏ là người nghệ sĩ tài hoa chẩm lên đó đã mang lại thần sắc cho toàn cảnh dường như nó làm tăng thêm niềm vui và sức mạnh cho người đang cất bước trên đường xa.

Cô gái, bếp lửa gợi tới cảnh gia đình, ngô hạt xay xong, bếp đỏ hồng lại gợi tới công việc, sự nghỉ ngơi và sum họp – thấp thoáng trong những hình ảnh ấy như có một ước mơ thầm kín và mái ấm gia đình của người đang lưu lạc xa nhà, xa đất nước quê hương. Đấy là tâm hồn nhà cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui đời thường. Bài thơ đã vận động từ ánh chiều âm u, tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui. Nó cho thấy cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời và tình yêu thương nhân dân của một con người “Nâng niu tất cả, chỉ quên mình” (Tố Hữu, Theo chân Bác).

Câu 4. Nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thị liệu xưa cũ) vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thực sinh động với những hình ảnh dân dã đời thường). Ở đây chủ yếu là gợi tả chứ không phải là miêu tả, cho nên tính chất cô đọng, hàm súc rất cao.

Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng rất linh hoạt và sáng tạo. Một số từ ngữ vừa gợi tả vừa gợi cảm (quyện điểu, cô vẫn). Biện pháp điệp vòng câu 3 và câu 4. Chữ hồng được coi là chữ thân. Hoàng Trung Thông viết: “Chữ hồng trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là “con mắt của thơ” (thi nhãn) hoặc là “nhãn tự” (chữ có mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa. Với chữ hồng đó, có ai còn cảm giác nặng nề mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu, mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia”.

  1. | Tài Liệu Chùa
This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa