Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Tràng Giang (Huy Cận)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Tràng Giang (Huy Cận) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 22  | Soạn bài Tràng Giang (Huy Cận) | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Tràng Giang
Soạn văn 11 soạn bài Tràng Giang

Gợi ý trả lời câu hỏi

1. Đề từ tuy nằm ngoài văn bản của tác phẩm, nhưng tập trung thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả. Câu thơ đề từ của bài Tràng giang: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” là một ví dụ tiêu biểu. Tuy chỉ bằng một câu thơ bảy chữ, nhưng đề từ này đã thể hiện được một phần quan trọng hồn cốt của toàn bộ tác phẩm, nói cụ thể hơn, đây chính là nỗi buồn (bàng khuâng tức là có những cảm xúc ngỡ ngàng, luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau) trước cảnh vũ trụ bao la, bát ngát (trời rộng, sông dài).

Có thể nói, Tràng giang đã triển khai một cách tập trung cảm hứng nêu ở câu thơ đề từ.

2. Toàn bài thơ mang âm điệu trầm buồn vừa dư vang vừa sâu lắng. Đó là nỗi buồn sầu ngấm sâu trong lòng tạo vật và trong tâm hồn nhà thơ. Âm điệu đó còn được tạo nên bởi nhịp điệu và thanh điệu của thể thơ thất ngôn. Nhịp thơ chủ yếu là 2/2/3, đôi chỗ là 4/3 hoặc 2/5,…

Đọc chậm và diễn cảm sẽ thấy nhịp thơ đó chất chứa nỗi buồn sầu mênh mang. Thanh điệu chủ yếu theo kiểu thất ngôn cổ điển. | Với sự luân phiên BB / TT / TBB – TT / BB / BTT, nhưng lại có biến thái qua việc sử dụng nhiều từ láy, sự lặp lại đều đặn tạo âm hưởng trôi chảy triền miên cùng nỗi buồn vô tận trong cảnh vật và hồn người.

3. Bài thơ tạo đựng một bức tranh thiên nhiên cổ kính, hoang sơ với tầm vóc mênh mang, vô biên, đậm chất Đường thi. Đó là một hệ thống hình ảnh ước lệ thường được dùng trong thơ cổ: tràng giang; thuyền về, nước lại; nắng xuống, trời lên; sông dài, trời rộng, mây cao đùn núi bạc, bóng chiếu, Uời con nước; khói hoàng hôn,.. | Tuy nhiên, bức tranh thiên nhiên ấy lại có nét quen thuộc, gần gũi, phảng phất cảnh vật sông nước trên khắp đất nước Việt Nam: một dòng sông mênh mang, một con thuyền xuôi dòng; một cành củi khô và những cánh bèo trôi dạt lênh đênh; những bờ cây xanh; những bãi cát vàng, một cánh chim nhỏ in trên trời mây,….

Sự hoà quyện của hai hệ thống hình ảnh đó tạo nên cho bài thơ một vẻ đẹp độc đáo: đơn sơ mà tinh tế, cổ điển mà thân quen

. 4. Tình yêu thiên nhiên thấm được lòng yêu nước thầm kín:

Đây là thời các nghệ sĩ bày tỏ lòng yêu nước một cách xa xôi, bóng gió (Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải, Thề non nước của Tản Đà, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân,…). Huy Cận từng viết về nỗi buồn sông núi – nỗi buồn của người dân thuộc địa trước giang sơn bị mất chủ quyền. Ở bài thơ này, nỗi buồn sầu ấy đã hoà vào nỗi bơ vơ trước tạo vật thiên nhiên hoang vắng và niềm thiết tha với thiên nhiên tạo vật ở đây cũng là niềm thiết tha với quê hương đất nước.

5. Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính với cách ngắt nhịp quen thuộc (4/3) tạo nên sự cân đối, hài hoà. Thủ pháp tương phản được sử dụng triệt để: hữu hạn/vô hạn; nhỏ bé/lớn lao; không/có,… | Các từ láy: đìu hiu, chót vót, lơ thơ,…; điệp điệp, song song, lớp lớp, dọn dợn,… Các biện pháp tu từ: nhân hoá, ẩn dụ, so sánh,… Dựa vào phần hướng dẫn ở trên để khai thác giá trị của các biện pháp nghệ thuật đó.

Luyện tập

1. Tràng giang khắc hoạ một không gian rộng lớn. Đó là không gian của dòng sông sóng nước mênh mang như đang chảy về vô tận, rồi từ chiều dọc không gian mở ra theo chiều ngang, lan toả đôi bờ.

Chiều thứ ba của không gian vũ trụ mở ra với bầu trời sâu chót vót. Cả ba chiều của không gian đều không có giới hạn, tất cả thấm sâu nỗi sầu nhân thế, nỗi buồn cô đơn của nhà thơ.

Tràng giang của đất trời, tràng giang của tâm tưởng nhà thơ không những trôi xuôi theo dòng nước mà còn trôi theo dòng thời gian từ hiện tại về quá khứ xa xôi. Rồi từ dòng sông thời tiền sử, nhà thơ lại trở về hiện tại để tìm điểm tựa tinh thần ở quê hương đất nước.

 Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật ở Tràng giang đã góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng, tình cảm của tác giả

2*. Câu thơ “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi nhớ hai câu thơ của Thôi Hiệu trong bài thơ Lầu Hoàng Hạc. Cùng viết về khói sóng buổi hoàng hôn, cùng gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng lại có sự khác biệt tiêu biểu cho thơ cũ, thơ cổ điển và thời mới, thơ hiện đại. Thơ cũ tả cảnh ngụ tình, cảnh vật khơi gợi tâm trạng. Thơ mới, thơ của cái tôi nội cảm, không cần mượn tới ngoại cảnh mà vẫn tự biểu hiện được những cung bậc cảm xúc thiết tha.

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa