Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Hầu trời (Tản Đà)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Hầu trời (Tản Đà) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 20  | Soạn bài Hầu trời (Tản Đà) | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Hầu trời
Soạn văn 11 soạn bài Hầu trời

Gợi ý trả lời câu hỏi

1. Qua bài thơ ta nhận ra tại hư cấu nghệ thuật độc đáo và có duyên của Tản Đà, Chuyện kể về một giấc mơ, mơ thì tất nhiên là không có thực. Chính tác giả lúc tỉnh mộng cũng hãy còn bàng hoàng “chẳng biết có hay không”. Đó là cảm xúc thực nhưng tứ thơ lãng mạn lại là ở chỗ tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái “hồn cốt” trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực. Bởi thế mới có 3 câu sau hoàn toàn là khẳng định, dường như lật ngược lại vấn đề: “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng.”, “Thật hồn ? Thật phách ! Thật thân thể !”, “Thật được lên tiến…”.

Khổ thơ mở đầu đã gây được một mối nghi vấn, gợi trí tò mò của người đọc. Cảm giác đó làm cho câu chuyện mà tác giả sẽ kể trở nên có sức hấp dẫn đặc biệt, không ai có thể bỏ qua. Cách vào chuyện thật độc đáo và có duyên.Tản Đà được mời lên thiên đình là để đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe. Thi sĩ rất cao hứng và có phần tự đắc: “Đương cơn đắc ý đọc đã thích”….

– “Văn dài hơi tốt ran cũng mây !”. “Trời . nghe, Trời cũng lấy làm hay.”. “Chưa biết con in ra mấy mươi ?”. “Văn đã giàu thay, lại lắm lối”…

– Chư tiện nghe thơ rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ: “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi”. “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày”. “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tại đứng”. “Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.”…

– Trời khen rất nhiệt thành: Uăn thật tuyệt, chắc có ít, đẹp như sao băng,…

– Tác giả tự xưng tên tuổi và thân thế.

Qua những lời kể đó ta có thể thấy được điều gì về cá tính và tâm hồn thi sĩ. Tản Đà rất ý thức về tài năng thơ của mình, và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” , “cái tôi” rất cá thể của một Tản Đà Nguyễn Khắc Hiệu – con người của một vùng sông núi nước Nam. Ông cũng rất ngông khi tìm đến tận Trời để khẳng định tài năng của mình trước Ngọc hoàng Thượng đế và chư tiên. Ngông vốn là một sản phẩm của xã hội, đặc biệt là xã hội phong kiến Á Đông, “cái xã hội bị Khổng giáo úp chụp lên như cái vung, om cho ngạt thở” (Xuân Diệu). Ở cái xã hội lễ nghi chặt chẽ, khuôn phép ấy, cá tính độc đáo thường bị coi là ngông, là khác đời Trong văn chương, ngông thường biểu hiện thái độ phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, có tâm hồn, không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, đơn điệu, nên thường “phá cách”, tự đề cao, phóng đại cá tính của mình (Kìa thơ tri kỉ đàn anh nhất

-No khách phong lưu bậc thứ nhì – Tú Xương). Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ. Giữa chốn hạ giới văn chương rẻ như bèo, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, khinh bỉ, ông không tìm được tri kỉ tri âm, phải lên tận cõi Tiên mới có thể thoả nguyện. Vào đầu những năm 20, khi thơ phú nhà nho đã tàn cuộc mà thơ mới chưa ra đời, Tản Đà là nhà thơ đầu tiên trong văn học Việt Nam đã dám mạnh dạn hiện diện bản ngã đó: “Chủ nghĩa lãng mạn, với cá thể (individu) đã bật nứt ra trong văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX bằng Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu” (Xuân Diệu).

– Nhận xét về giọng kể của tác giả: Giọng kể của tác giả rất đa dạng, hóm hỉnh và có phần ngông nghênh, tự đắc (các em nên tìm dẫn chứng trong bài và phân tích thêm chi tiết này để làm nổi bậc ý của tác giả). Thái độ ngông nghênh, tự đắc ở đây dường như đã được phóng đại một cách có ý thức, gây ấn tượng mạnh cho người đọc. 

3. Các tìm đoạn thơ hiện thực trong bài và giải đáp câu hỏi theo các gợi ý sau:

– Tản Đà nói đến nhiệm vụ truyền bá “thiện lương” mà Trại giao cho là có ý gì ? Điều đó chứng tỏ Tản Đà lãng mạn, nhưng không hoàn toàn thoát li cuộc đời, ông vẫn ý thức về trách nhiệm với đời và khát khao được gánh vác việc đời. Đó cũng là một cách tự khẳng định mình.

– Nhưng cuộc đời – cụ thể là xã hội thực dân nửa phong kiến – đã đối xử với ông, người nghệ sĩ tài hoa, như thế nào ? Cuộc đời người nghệ sĩ trong xã hội lúc đó hết sức cơ cực, tủi hổ (không tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn, bị o ép nhiều chiều,…). Tản Đà đã vẽ một bức tranh rất chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn khác. Tản Đà nổi tiếng tài hoa một thời mà suốt đời sống nghèo khổ, cùng quẫn (“Hôm qua chưa có tiền nhà – Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào

– Đi ra rồi lại đi vào – Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ”). Về cuối đời, ông từng phải mở cửa hàng xem tướng số để kiếm ăn nhưng không có khách, mở lớp dạy Hán văn và Quốc văn nhưng không có học trò. Cuối cùng, ông chết trong cảnh nghèo đói, nhà cửa, đồ đạc bị chủ nợ tịch biên, chỉ còn một cái giường mọt, cái ghế ba chân, chồng sách nát và một be rượu). Bức tranh hiện thực đó giúp chúng ta hiểu thêm vì sao Tản Đà thấy đời đáng chán (“Trần thế em nay chán nửa rồi”), vì sao ông phải tìm cõi tri âm tận trời cao (“Tri kỉ trông lên đứng tận thời”), phải tìm đến chị Hằng Nga, Ngọc hoàng Thượng đế, chư tiên,… để thoả niềm khao khát. Hai nguồn cảm hứng lãng mạn và hiện thực thường đan cài khăng khít trong không như thế.

4. Câu hỏi có tính chất tổng kết về mặt nghệ thuật. Nên các em tìm dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại:

Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.

– Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần với đời, không cách điệu, ước lệ.

– Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn được người đọc.

– Tác giả tự hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện, đồng thời là nhân vật chính. Cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do, không hề gò ép. | Có thể thấy, Tản Đà đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình giữa lúc thơ phú nhà nho đang đi dần tới dấu chấm hết. Nhìn chung thơ Tản Đà chưa mới (ở thể loại, ở ngôn từ, ở hệ thống hình ảnh nghệ thuật,…), nhưng những dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại đã 1 đêm nét. Có thể nói, ông đã bắc một nhịp cầu nối hai thời đại thị ca Việt Nam. Bởi thế, tác giả Thị nhân Việt Nam đã mời anh hồn Tản Đà ra để chứng giám Hội Tao đàn của thế kỉ XX.

Luyện tập

Các em có thể lựa chọn bất kì tứ thơ hoặc câu thơ nào trong bài mà mình thích thú nhất rồi viết đoạn văn trình bày những cảm nhận sâu sắc hoàn toàn theo ý cá nhân.

Ví dụ: – Tứ thơ rất ngông và rất lãng mạn của Tản Đà: mơ lên hầu Trời và đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

. Bốn câu thơ vào bài mà thi sĩ Xuân Diệu nói là: “…tôi phục nhất…” (tham khảo lời giới thiệu trong Thơ Tản Đà, NXB Văn học, Hà Nội, 1982).

– Những lời ban khen của Trời và chư tiên; thái độ “đắc ý” của thi sĩ trước những lời ban khen đó.

– Ước nguyện cuối bài: “Một năm ba trăm sáu mươi đêm, – Sao được mỗi lên hầu Trời”.

2 .Bài tập này dành cho các em khá giỏi, có năng khiếu. Các em cần biết tích hợp những kiến thức đã học, từ Nguyễn Công Trứ đến Tú Xương, Tản Đà,… để hiểu ngống trong văn chương là phản ứng của những người nghệ sĩ tài hoa, có cá tính, không chịu trói mình trong một khuôn khổ chật hẹp, cũng thể hiện phản ứng của những người trí thức có nhân cách trước một xã hội mà họ không thể chấp nhận, cũng không muốn nhập cuộc. Có thể phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, Muốn làm thằng cuội của Tản Đà,…

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa