Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 19  | Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

Soạn văn 11 soạn bài Lưu biệt khi xuất dương
Soạn văn 11 soạn bài Lưu biệt khi xuất dương

Gợi ý trả lời câu hỏi

1. Các em cần nêu hai ý lớn sau:

– Vào những năm cuối thế kỉ XIX, tình hình chính trị trong nước hết sức đen tối: chủ quyền đất nước đã mất hoàn toàn vào tay giặc, phong trào Cần vương văn thân thất bại không cơ cứu vãn, chế độ phong kiến sụp đổ, kéo theo nó là sự sụp đổ cả một hệ tư tưởng phong kiến già cỗi, bất lực. Bao anh hùng, nghĩa sĩ cứu nước đã hi sinh… Tình hình đó đặt ra trước các nhà yêu nước một câu hỏi lớn, day dứt: Phải cứu nước bằng con đường nào?

– Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài tràn vào Việt Nam ngày càng mạnh qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản và trực tiếp từ Pháp, từ các nước phương Tây. Người ta có thể tìm thấy đó những gợi ý hấp dẫn về một con đường cứu nước mới, những viễn cảnh đầy hứa hẹn cho tương lai. Vì thế các nhà thơ tiên tiến của thời đại như Phan Bội Châu đã say sưa dấn bước, bất chấp mọi nguy hiểm, gian lao.

2. Đây là bài thơ theo kết cấu bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú nên các em có thể phân tích hai câu thơ một, để hiểu ý nghĩa và cảm xúc, hình tượng nghệ thuật mà tác giả muốn gởi gắm.

– Hai câu thơ đầu (đề) đề cập đến chí làm trai nói chung. Hai câu thơ khẳng định một lẽ sống đẹp, phải là có nghĩa là phải biết sống cho phi thường, hiển hách, phải dám mưu đồ những việc kinh thiên động địa, xoay chuyển càn khôn, chứ không thể sống tầm thường, tẻ nhạt, buông xuôi theo số phận, chịu để cho con tạo vần xoay. Với Phan Bội Châu, đó là sự tiếp nối khát vọng sống mãnh liệt của chàng trai đầy nhiệt huyết, nhân vật trữ tình trong bài hát nói Chơi xuân trước đó: “Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi – Sinh thời thế phải xoay nên thời thế”. Cảm hứng và ý tưởng đó có phần gần gũi với lí tưởng nhân sinh của các nhà nho thuở trước (Nguyễn Công Trứ: “Làm trai đứng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”), nhưng nó táo bạo và quyết liệt hơn. Con người dám đối mặt với cả đất trời (càn khôn), cả vũ trụ để tự khẳng định mình, vượt hẳn lên trên cái mộng công danh thường gắn liền với hai chữ hiếu, trung để vươn tới những lí tưởng nhân quần, xã hội rộng lớn và cao cả hơn nhiều. Xưa nay, con tạo cần xoay vốn là lẽ thường tình, nhưng với Phan Bội Châu, ông ôm ấp khát vọng có thể xoay chuyển càn khôn, không để cho nó tự chuyển dần, cũng có nghĩa là không chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh. Lí tưởng sống ấy đã tạo cho con người một tư thế mới, khỏe khoắn, ngang tàng, dám ngạo nghễ, thách thức với càn khôn.

– Hai câu thơ 3 – 4 (thực) nhằm triển khai cụ thể ý tưởng về chí làm trai đã mở ra ở trên. Chí làm trại đã gắn với ý thức về “cái tôi”, nhưng đây là một “cái tôi” công dân đầy tinh thần trách nhiệm trước cuộc đời. Cuộc thế trăm năm này cần phải có ta, không phải là để hưởng lạc thú mà là để cống hiến cho đời, để đáng mặt nam nhi, để lưu danh thiên cổ. Câu thơ thứ ba khẳng định dứt khoát, đến câu thứ tư, tác giả chuyển giọng nghi vấn, nhưng cũng nhằm để khẳng định quyết liệt hơn một khát vọng sống hiển hách, phát huy hết tài năng và chí khí cống hiến cho đời. Ý thơ được tăng cấp lên, đồng thời thêm giọng khuyến khích, giục giã con người. Với một lẽ sống như thế, tất sẽ làm nên sự nghiệp, và tên tuổi không có lẽ lại không lưu truyền mãi mãi tới cả ngàn năm sao ! Thân nam nhi há lại chịu “nát với cỏ cây” (ý thơ của Nguyễn Công Trứ) sao ! Há lại chịu để cho mai một tài năng và chí khí trong cảnh “cá chậu chim lồng” sao !

Bước vào mấy năm đầu thế kỉ XX, sau những thất bại liên tiếp của các phong trào vũ trang chống Pháp, một nỗi thất vọng, bi quan đè nặng tâm hồn những người Việt Nam yêu nước. Tâm lí buông xuôi, an phận, cam chịu cảnh “cá chậu chim lồng” có nguy cơ phát triển. Phan Bội Châu gọi đó là cái cá chết lòng. Hồi chuông thức tỉnh này quả có ý nghĩa rất lớn.

Cảm hứng lãng mạn bay bổng lại được gắn với những hình tượng nghệ thuật kì vĩ, trường tồn: đất trời cao rộng (càn khôn), cuộc nhân sinh một đời người (trong khoảng trăm năm) và cả tương lai nối dài phía sau (sau này muôn thuở), càng làm tăng đến vô cùng sức mạnh của khát vọng và niềm tin.

– Hai câu thơ 5 – 6 (luận) tiếp tục triển khai đề, gắn chí làm trai vào hoàn cảnh thực tế của nước nhà. Lẽ nhục – vinh được đặt ra, gắn với sự tồn vong của đất nước, của dân tộc “Non sông đã chết, sống thêm nhục”. Ở những tác phẩm khác, Phan Bội Châu từng viết: “Bối mặt thờ kẻ thù sẽ là một vật bẩn thỉu trong vũ trụ”, “ Sao bằng ngẩng đầu lên làm một người lỗi lạc của Tổ quốc”. Đó là cội nguồn cảm xúc của tác giả trong toàn bài thơ, nó gần gũi với tư tưởng yêu nước từng thấy trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu (GV có thể gợi cho HS tìm những câu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thể hiện tư tưởng này). Nhưng đến câu 6 thì ý tưởng của Phan Bội Châu đã vượt hẳn lên, mang những sắc thái mới của tư tưởng thời đại. Nếu như cảm hứng yêu nước trong thơ văn Đồ Chiều ít nhiều còn vương vấn hai chữ hiếu, trung (Quân thân một gánh nặng hai vai) thì Phan Bội Châu đã khác. Ông đã dám đối mặt với cả nền học vấn cũ để nhận thức một chân lí: Sách vở thánh hiền chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan, nếu cứ khư khư ôm giữ chỉ là ngu mà thôi. Tất nhiên, ông chưa đến mức phủ nhận cả nền học vấn Nho giáo đó, nhưng có được một ý tưởng như thế quả là đã hết sức táo bạo đối với một người từng gắn bó với cửa Khổng sân Trình. Có được dũng khí và nhận thức sáng suốt đó trước hết phải kể đến tấm lòng yêu nước nồng cháy mà ông đã thể hiện ở câu trên, đến khát vọng tìm con đường đi mới có thể đưa nước nhà thoát khỏi cảnh khổ đau. Bên cạnh đó, không thể không nói đến ảnh hưởng của luồng tư tưởng mới đã len lỏi vào đất nước ngay từ mấy năm cuối thế kỉ XIX mà Phan Bội Châu đón nhận qua những cuốn Tân thư lưu truyền bí mật. Nhân vật trữ tình ở đây đã thể hiện khí phách ngang tàng, táo bạo, quyết liệt của một nhà cách mạng đi tiên phong cho thời đại mới. .

– Bài thơ kết lại trong tư thế và khát vọng buổi lên đường của nhân vật trữ tình. Các hình ảnh ở hai câu thơ 7 – 8 đều hết sức lớn lao: bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc. Tất cả đều như hoà nhập với con người trong tư thế “bay lên”. Hình ảnh kết thúc này thật lãng mạn, hào hùng, con người dường như được chắp đôi cánh thiên thần, bay bổng ở bên trên thực tại tối tăm, khắc nghiệt, vươn ngang tầm vũ trụ bao la. Trong thực tế, đây là một cuộc ra đi bí mật, tiễn đưa chỉ có vài ba đồng chí thân cận nhất, phía trước mới chỉ le lói những tia sáng của khát vọng, ước mơ. Vậy mà con người ra đi tìm đường cứu nước vẫn hăm hở, tự tin và đầy quyết tâm như thế. Hình tượng thật đẹp và giàu chất sử thi. Thanh niên trong thời đại ngày nay có một lẽ sống đẹp, sống có lí tưởng, có hoài bão, ước mơ và dám đương đầu với mọi thử thách để thực hiện hoài bão, ước mơ đó.

3. Hai câu thơ dịch 6 và 8 chưa lột tả hết “cái thần” của nguyên tác. Phan Bội Châu là một trong những nhà nho tiên tiến của thời đại đã sớm tiếp cận với những tư tưởng dân chủ tư sản qua Tân thư. Ông hiểu rất rõ sự mục ruỗng của triều đình phong kiến Việt Nam lúc đó: “Suốt một lũ trong vòng cung thất – Của ăn chơi cao huyết muôn người”, sự bất lực của ông vua đang tồn tại trên ngai vàng: “Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu” (Hải ngoại huyết thư). Mặc dù là một nhà nho nhưng Phan Bội Châu không thể không nhận thấy sự lỗi thời, lạc hậu của những tín điều xưa cũ từng một thời là “khuôn vàng thước ngọc”, chỉ đạo mọi cung cách hành xử của cả một lớp người như ông. Trong hoàn cảnh thời đại mới, kinh điển của thánh hiền đã không còn có thể trợ giúp cho con người giải quyết những vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc đang làm nhức nhối những con tim cháy bỏng nhiệt tình cứu nước. Sự thất bại của phong trào Cần vương văn thân cuối thế kỉ XIX là một minh chứng. Ông phủ nhận một cách quyết liệt “có đọc sách cũng ngu thôi”. Bản dịch thơ là “học cũng hoài” mới chỉ nêu được ý phủ nhận mà chưa thể hiện được cái khí phách ngang tàng, táo bạo, dứt khoát của tác giả. Ở câu thơ cuối bài cũng vậy. Hình ảnh “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” êm ả như, một cuộc tiễn đưa bình thường, khi con tàu vượt trùng dương. Trong nguyên tác, hai câu 7- 8 tạo thành một tứ thơ đẹp. Con người “đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông”, cả vũ trụ bao la “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” (Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi). Tất cả tạo thành một bức tranh hoành tráng mà hài hoà, ở đó, con người là trung tâm, được chắp cánh bởi khát vọng lớn lao, đã vút bay cao cùng ngọn gió, lồng lộng giữa trời biển mênh mông. Và bên dưới đôi cánh đại bàng đó là muôn ngàn con sóng cùng lúc dâng cao, tung bọt trắng xoá, dường như muốn tiếp sức cho con người, bay thẳng tới chân trời mơ ước: Hình ảnh đậm chất sử thi này đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho một thời đại mới, một thế kỉ mới.

Đối với câu hỏi này mang hàm ý tổng kết toàn bài. Các em có thể hướng theo cách trả lời sau:

– Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt. – Tư thế con người kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ.

– Lòng yêu nước cháy bỏng và ý thức về lẽ nhục • vinh gắn liền sự tồn vong của Tổ quốc.

– Tư tưởng đổi mới táo bạo, đi tiên phong cho thời đại. – Khí phách ngang tàng, dám đương đầu với mọi thử thách. – Giọng thơ tâm huyết sâu lắng mà sục sôi, hào hùng.

Luyện tập

Để viết một đoạn văn trình bày những cảm nhận của các em về hình ảnh nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài, các em cần lưu ý những nghệ thuật sau:

+ Vẻ đẹp hào hùng của nhân vật trữ tình thể hiện qua từng ý trong bài nhưng tập trung nhất là ở hai câu thơ này.

+ Hoàn cảnh đất nước ta mấy năm đầu thế kỉ XX và cuộc ra đi tìm đường cứu nước của Phan Bội Châu.

+ Mong muốn của tác giả thể hiện trong hai câu 7 – 8 là đuổi theo cơn gió lớn qua biển Đông, cũng có nghĩa là tìm ra con đường đi mới cho lịch sử đất nước, tìm ra trường hoạt động mới để thân nam nhi được thỏa chí bình sinh.

+ So sánh câu thơ cuối cùng của bản dịch với nguyên tác để thấy bản dịch không hoàn toàn bám sát ý nguyên tác, đã chuyển một khát vọng, một dự cảm, một liên tưởng bất chợt, một hình ảnh giàu tính biểu tượng thành sự tường thuật miêu tả thực tế, do vậy, chưa truyền đạt được phong độ hào hùng, niềm ham hở dấn thân cùng trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ.

+ Tâm thế cùng tư thế của nhân vật trữ tình lúc này là muốn lao ngay vào một trường hoạt động mới mẻ, sôi động; bay lên làm quẫy sóng đại dương hay bay cùng những đợt sóng trào sôi vừa thoáng hiện trong tâm hồn tư tưởng.

+ Hai câu thơ cuối gợi ta nhớ đến hai câu thơ của ai?

Đoạn thơ sẽ hay hơn nếu người viết thể hiện được những cảm xúc riêng trước sức lay động sâu xa và mãnh liệt của hai câu thơ này.

| Tài Liệu Chùa

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa