Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo)

img

Hướng dẫn soạn văn 11 – soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo) – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 11 | Soạn văn lớp 11 | Soạn văn 11 Tuần 3 | Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo) | Tài Liệu Chùa

Soạn văn 11 soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo)
Soạn văn 11 soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo)

Luyện tập 

Câu 1: Từ nách là một từ phổ biến, quen thuộc với mọi người nói tiếng Việt với nghĩa “mặt dưới chỗ cánh tay nối với ngực” (Từ điển tiếng Việt – Hoàng Phó chủ biên). Nhưng trong câu thơ dưới đây, Nguyễn Du (trong Truyện Kiều) đã có sự sáng tạo riêng khi dùng từ nách như thế nào ? 

Nách tường bông liễu bay sang láng giềng.

Gợi ý trả lời

Trong câu thơ của Nguyễn Du, nách chỉ góc tường. Nguyễn Du đã chuyển nghĩa cho từ nách từ nghĩa chỉ vị trí trên thân thể con người sang nghĩa chỉ vị trí giao nhau giữa hai bức tường tạo nên một góc. Đây là nghĩa chuyển, chỉ có trong lời thơ của Nguyễn Du, nhưng nó được tạo ra theo phương thức chuyển nghĩa chung của tiếng Việt phương thức ẩn dụ (tức dựa vào quan hệ tương đồng giữa hai đối tượng được gọi tên).

Câu 2. Trong những câu thơ sau, từ xuân được dùng theo sự sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ như thế nào ? Hãy phân tích nghĩa của từ xuân trong lời thơ của mỗi người. – Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại.

(Hồ Xuân Hương, Tự tình – bài II) – Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều) – Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.

(Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê) – Mùa xuân là Tết trồng cây,

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.

(Hồ Chí Minh) | Từ xuân trong ngôn ngữ chung đã được các tác giả dùng với nghĩa riêng:

– Trong câu thơ của Hồ Xuân Hương, xuân vừa chỉ mùa xuân, vừa chỉ sức sống và nhu cầu tình cảm của tuổi trẻ.

. Trong câu thơ của Nguyễn Du, xuân trong canh xuân để chỉ vẻ đẹp của người con gái trẻ tuổi. | . Trong câu thơ của Nguyễn Khuyến, xuân trong bầu xuân chỉ chất men say nóng của rượu ngon, đồng thời cũng có nghĩa bóng chỉ sức sống dạt dào của cuộc sống, tình cảm thắm thiết của bạn bè.

– Trong câu thơ của Hồ Chí Minh, từ tuần thứ nhất có nghĩa gốc chỉ mùa đầu tiên trong năm, từ xuân thứ hai chuyển nghĩa chỉ sức sống mới, tươi đẹp.

Câu 3: Cùng là từ mặt trời trong ngôn ngữ chung, nhưng mỗi tác giả trong những câu thơ sau đã có sáng tạo như thế nào khi sử dụng ?

Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then, đêm sập cửa.

(Huy Cận, Foàn thuyền đánh cá) Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lí chói qua tim.

(Tố Hữu, Từ ấy) Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng. (Nguyễn Khoa Điềm, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)

Gợi ý trả lời

Cùng là từ mặt trời trong ngôn ngữ chung, nhưng mỗi tác giả sử dụng theo những cách khác nhau, tạo nên những ý nghĩa riêng, khác nhau:

a) Trong câu thơ của Huy Cận, mặt trời dùng với nghĩa gốc (chỉ một thiên thể trong vũ trụ), nhưng dùng theo pháp nhân hoá nên có thể xuống biển (hoạt động như người).

b) Trong câu thơ của Tố Hữu, từ mặt trời chỉ lí tưởng cách mạng.

c) Trong câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm, từ mặt trời đầu dùng với nghĩa gốc, từ mặt trời thứ hai dùng với nghĩa ẩn dụ, chỉ đứa con

của người mẹ: Đối với người mẹ, đứa con là niềm hạnh phúc, niềm tin, mang lại ánh sáng cho cuộc đời người mẹ.

Câu 4: Theo anh (chị), trong những câu sau, từ nào là từ mới được tạo ra trong thời gian gần đây ? Chúng được tạo ra dựa vào những tiếng nào có sẵn và theo phương thức cấu tạo từ như thế nào ?

a) Nhưng ngẫm nghĩ một chút, họ sẽ thấy những vật mộn mằn nhất chứa cả một sự thông tin sâu sắc.

(Báo Quân đội nhân dân) b) Gái miệt vườn giỏi giắn, làm trăm công nghìn việc không biết mệt.

(Minh Tuyền) c) Tôi được xem băng ghi hình mọi chi tiết của cuộc mổ [..] bằng ca-mê-ra chuyên dụng của chính máy nội soi.

(Quang Đẩu)

Gợi ý trả lời

Trong các câu a và b, có ba từ do các cá nhân tạo ra, trước đó chưa có trong ngôn ngữ chung của xã hội. Chúng được tạo ra trên cơ sở của một tiếng đã có sẵn cùng với quy tắc cấu tạo chung, hoặc chỉ dựa vào quy tắc (mô hình, kiểu) cấu tạo chung.

a) Trong câu a, từ mộn mằn được cá nhân tạo a khi đưa vào: – Tiếng mọn với nghĩa “nhỏ đến mức không đáng kể” (như trong từ ghép: nhỏ mọn). – Những quy tắc cấu tạo chung như sau: + Quy tắc tạo từ láy hai tiếng, lặp lại phụ âm đầu (âm m). + Trong hai tiếng, tiếng gốc (mọn) đặt trước, tiếng láy đặt sau.

+ Tiếng láy lặp lại âm đầu, nhưng đối vần thành vần ăn và đổi thanh nặng thành thanh huyền cùng âm vực.

Quy tắc cấu tạo như vậy đã được dùng để cấu tạo nhiều từ láy khác. Các em cần huy động và kể ra những từ cùng kiểu cấu tạo như: nhỏ nhắn, xinh xắn, đều đặn, may mắn, bằng bàn, vừa vặn, khoẻ khoắn, đỏ đắn, đứng đắn, lành lặn, chắc chắn, thẳng thắn, khó khăn, nhọc nhằn,…

Từ mộn mằn có nghĩa là nhỏ nhặt, tầm thườns, không đáng kể.

b) Trong câu b, từ giỏi gián được tạo ra trên cơ sở tiếng giỏi và theo quy tắc như các từ trên: láy phụ âm đầu, tiếng thứ hai mangvần ăn. Từ giỏi giản có nghĩa là: rất giỏi (có sắc thái thiện cảm, được mến mộ).

c) Trong câu c, từ nội soi được tạo ra từ hai tiếng có sẵn (nội, soi), đồng thời dựa vào phương thức cấu tạo từ ghép chính phụ có tiếng chính chỉ hoạt động (đi sau) và tiếng phụ bổ sunỵ ý nghĩa (đi trước). Phương thức cấu tạo của từ nội soi giống phương thức cấu tạo của các từ đã có từ lâu: ngoại xâm, ngoại nhập,…

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa