Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Hướng dẫn soạn văn 10 – soạn bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 10 | Soạn văn lớp 10 | Soạn văn 10 Bài 28 | Soạn bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật| Tài Liệu Chùa

I. KIẾN THỨC CẦN NHỚ

Cần nắm được khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

a) Nói đến ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ văn học) là nói đến ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm được dùng trong văn, thơ. Ví dụ:

Hỡi cô tát nước bên đàng,

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

(Ca dao)

Nhưng ngôn ngữ nghệ thuật vẫn được sử dụng trong lời nói hằng ngày và cả trong văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác. Chẳng hạn, trong Tuyên ngôn Độc lập là một văn bản chính luận, để cho lí lẽ và lập luận có sức thuyết phục, lay động lòng người, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã viết những câu văn giàu hình ảnh, có sức biểu cảm cao:

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học.

Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nói của ta.

Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

b) Tuy vậy, nói đến ngôn ngữ nghệ thuật trước hết là phải nói đến ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật. Ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật được phân chia thành 3 loại:

– Ngôn ngữ tự sự trong truyện, tiểu thuyết, bút kí, kí sự, phóng sự..

 – Ngôn ngữ thơ trong ca dao, vè, thơ (nhiều thể loại khác nhau)…

– Ngôn ngữ sân khấu trong kịch, chèo, tuồng…. Mỗi loại trên đây lại có thể chia thành nhiều thể.

c) Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ thực hiện chức năng thông tin, mà điều quan trọng là nó thực hiện chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp và khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc. Ví dụ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

(Ca dao)

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, bóng hồng hoa

Cảnh khuya như mẽ, người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

(Hồ Chí Minh – Cảnh khuya) 

Ngôn ngữ nghệ thuật tuy lấy ngôn ngữ tự nhiên, hằng ngày làm chất liệu nhưng khác với ngôn ngữ hằng ngày là ở chức năng thẩm mĩ. Phẩm chất thẩm mĩ mà nó có được là do sự lựa chọn, xếp đặt, trau chuốt, tinh luyện của người sử dụng theo các mục đích thẩm mĩ khác nhau.

2. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Tuy ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng đa dạng về thể loại, phong phú về màu sắc, biến hóa về tính sáng tạo, nhưng đều thống nhất ở ba đặc trưng cơ bản: tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hóa. Các đặc trưng này làm nên phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

(1) Tính hình tượng

| Tình hình tượng là đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật.

Ví dụ: Các hình tượng cụ thể “lá xanh, bông trắng, nhị vàng” trong bài ca dao trên đây tạo nên hình tượng sen như là một tín hiệu thẩm mĩ về phẩm chất thanh cao trong tự nhiên và cả trong xã hội loài người.

Để tạo ra hình tượng ngôn ngữ, người viết dùng nhiều phép tu từ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh… Những phép tu từ này được dùng rất sáng tạo – hoặc đơn lẻ hoặc phối hợp với nhau. – So sánh:

Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp,

Rắn như thép, cũng như đồng

Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp

Cao như núi, dài như sông

Chí ta lớn như biển Đông trước mặt!

(Tố Hữu – Ta đi tới)

– Ẩn dụ:

Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng.

(Nguyễn Trung Thành – Rừng xà nu)

– Hoán dụ:

Ta đã lớn lên rồi trong khói lửa

Chúng nó chẳng còn mong được nữa

Chặn bàn chân một dân tộc anh hùng

Những bàn chân từ than bụi, lầy bùn

Đã bước dưới mặt trời cách mạng.

(Tố Hữu – Ta đi tới)

– Mô

Nhờ tính hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật có tính đa nghĩa, gợi nhiều liên tưởng và ý nghĩa sâu xa trong người đọc:

– Một tiếng chim kêu sáng cả rừng.

(Khương Hữu Dụng)

– Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non.

(Hồ Xuân Hương – Bánh trôi nước)

Và tính đa nghĩa cũng quan hệ mật thiết với tính hàm súc: lời ít mà ý sâu xa, gợi nhiều. Hai câu thơ trên đây vừa mang tính đa nghĩa lại vừa có tính hàm súc chính là vì thế.

(2) Tính truyền cảm

Cũng nhờ tính hình tượng mà ngôn ngữ nghệ thuật có tính truyền cảm. Tính truyền cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ làm cho người nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu, ghét… như chính người nói (viết). Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật là tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm xúc về vẻ đẹp vô hình mà tưởng như hiển hiện trước mắt…

Một câu ca dao: 

Núi cao chi lắm núi ơiom

Che cả mặt trời, không thấy người thương.

Một câu thơ Kiều:

Đau đớn thay phận đàn bà

 Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Một câu thơ hiện đại:

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.

(Nguyễn Đình Thi – Đất nước)

đều mang tính truyền cảm cao nhờ ngôn ngữ nghệ thuật. Và văn xuôi nghệ thuật cũng vậy (dẫn chứng).

(3) Tính cá thể hóa

Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ của từng cá nhân nghệ sĩ nên bao giờ cũng có một giọng điệu riêng, một phong cách riêng của từng tác giả làm nên tính cá thể hóa của nó. Ta thấy giọng thơ Tố Hữu

không giống giọng thơ Chế Lan Viên, giọng thơ Xuân Diệu không giống giọng thơ Huy Cận, câu văn Nguyễn Công Hoan khác câu văn Nam Cao… Chính những biện pháp xử lí ngôn ngữ đã tạo ra giọng điệu riêng, phong cách nghệ thuật riêng của từng nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật.

Tính cá thể hóa còn được biểu lộ ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật (lời nói của Chí Phèo khác lời nói của Bá Kiến, lời nói của chị Dậu khác Nghị Quế…); ở nét riêng trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm (trăng trong Truyện Kiều được nói đến trong những tình huống khác nhau đều mang nét riêng khác nhau, bốn lần Kiều đánh đàn cũng được Nguyễn Du miêu tả không giống nhau). Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật những sáng tạo, mới lạ, không lặp lại.

II. LUYỆN TẬP

Câu 1:

Dựa vào bài học trên đây ở mục (1), các em tự trả lời câu hỏi này.

Câu 2

 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là tính hình tượng. Từ tính hình tượng mà có tính truyền cảm; và tính cá thể hóa (của từng nghệ sĩ) cũng được biểu hiện từ tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật.

Câu 3. Lựa chọn từ thích hợp để điền vào chỗ trống:

a) Nhật kí trong tù canh cánh một tấm lòng nhớ nước.

b) Ta tha thiết tự do dân tộc

Không chỉ vì một dải đất riêng.

Kẻ đã rắc trên mình ta thuốc độc

Giết màu xanh cả Trái Đất thiêng.

Các em suy nghĩ và lí giải vì sao lại lựa chọn các từ này để đưa vào các câu văn và câu thơ nói trên.

Câu 4 :So sánh để tìm ra tính cá thể hóa về ngôn ngữ trong ba đoạn thơ viết về mùa thu.

Gợi ý:

a) Đoạn thơ của Nguyễn Khuyến tả cảnh thu ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ.

b) Đoạn thơ của Lưu Trọng Lư nói lên cái “tiếng thu” buồn, ngơ ngác của nhà thơ lãng mạn trong phong trào Thơ mới giai đoạn 1932 – 1941.

c) Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi tả mùa thu kháng chiến tràn đầy niềm vui ở chiến khu Việt Bắc (trong cuộc kháng chiến chống Pháp).

Từ đó, các em so sánh và rút ra những điểm khác nhau sau đây:

– Cách chọn từ ngữ để tạo hình tượng mùa thu.

– Nhịp điệu câu thơ khác nhau (thơ Nôm luật Đường, thơ năm chữ, thơ tự do).

– Hình tượng ba mùa thu ở ba tác giả không cùng một thời đại; không giống nhau ở phong cách sử dụng ngôn ngữ. (Nêu nét riêng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của từng nhà thơ).

 

 

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa