Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem : Ad Clicks : Ad người đã xem :

WEBSITE TẢI TÀI LIỆU NHIỀU NGƯỜI TIN TƯỞNG NHẤT VIỆT NAM

Khái quát lịch sử tiếng Việt

Hướng dẫn soạn văn 10 – soạn bài Khái quát lịch sử tiếng Việt – Tài Liệu Chùa

Thuộc mục lục Soạn văn 10 | Soạn văn lớp 10 | Soạn văn 10 Bài 21 | Soạn bài Khái quát lịch sử tiếng Việt | Tài Liệu Chùa

Bài học gồm hai phần: .

– Lịch sử phát triển của tiếng Việt

– Chữ viết của tiếng Việt

I. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TIẾNG VIỆT

Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc Việt – dân tộc đa số trong đại gia đình 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, đồng thời là ngôn ngữ được dùng chính thức trong các lĩnh vực hành chính, ngoại giao, giáo dục… Tiếng Việt cũng được các dân tộc anh em sử dụng như ngôn ngữ chung trong giao tiếp xã hội.

1. Tiếng Việt trong thời kì dựng nước

Tiếng Việt có lịch sử phát triển lâu đời mà dấu vết mờ nhạt còn có thể thấy được qua những thiên truyền thuyết cổ xưa được lưu truyền rộng rãi đến tận ngày nay như: Bánh chưng, bánh giầy; Thánh Gióng…

Vì giới nghiên cứu chưa tìm được những chứng tích chữ viết rõ ràng nên diện mạo tiếng Việt thời kì này chỉ có thể tìm hiểu một cách khái quát qua một số vấn đề chủ yếu như: nguồn gốc, quan hệ họ hàng, tiếp xúc với ngôn ngữ văn tự Hán ở thời kì đầu.

a) Nguồn gốc tiếng Việt

Tiếng Việt có nguồn gốc bản địa. Nguồn gốc và tiến trình phát triển của tiếng Việt gắn bó với nguồn gốc và tiến trình phát triển của dân tộc Việt – cộng đồng người đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc kiến tạo nền văn minh lúa nước trên địa bàn Đông Nam Á tiền sử, đặc biệt là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hiện nay. Tiếng Việt được xác định thuộc họ ngôn ngữ Nam Á.

b) Quan hệ họ hàng của tiếng Việt

( Qua sự tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ thuộc các họ ngôn ngữ khác, họ ngôn ngữ Nam Á đã phân chia thành một số dòng, trong đó có dòng Môn – Khmer phân bố ở vùng cao nguyên Nam Đông Dương và miền phụ cận vùng núi Bắc Đông Dương. Từ dòng Môn – Khmer đã tách ra tiếng Việt Mường chung (tiếng Việt cổ) và cuối cùng tách ra thành tiếng Việt và tiếng Mường. Trong tiếng Việt hiện đại, những từ như chim, sông, cá, chân, tay… đã được chứng minh là có nguồn gốc Môn – Khmer. Đối chiếu tiếng Việt với tiếng Mường, có thể tìm thấy sự tương ứng về ngữ âm, ngữ nghĩa của nhiều từ. Ví dụ:

     Việt            Mường

     ngày             ngài

    mưa             mua

     trong             tlong

Tiếng Việt thời xưa chưa có thanh điệu; trong hệ thống âm đầu, ngoài phụ âm đơn còn có phụ âm kép như tủ, kl, pl…; trong hệ thống | âm cuối còn có các âm nhí – 1, – h, – S… Về mặt ngữ pháp, từ được

hạn định đặt trước, từ hạn định đặt sau (ví dụ như: cây cao, hoa đẹp, cỏ xanh…)

Có thể khẳng định rằng: Ngay từ thời dựng nước, trong quá trình giao hòa với nhiều dòng ngôn ngữ trong vùng, tiếng Việt với cội nguồn Nam Á đã sớm tạo dựng được một cơ sở vững chắc để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển trước sự xâm nhập ồ ạt của ngôn ngữ văn tự Hán ở những thế kỉ đầu Công nguyên.

c) Tiếp xúc với tiếng Hán và các ngôn ngữ chung quanh

Trong quá trình phát triển, tiếng Việt đã có quan hệ tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ khác trong khu vực, chẳng hạn như tiếng Thái… Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán đã diễn ra lâu dài nhất và sâu rộng nhất. Thời Bắc thuộc, tiếng Hán theo nhiều ngả đường đã du nhập vào Việt Nam. Với chính sách đồng hóa của phong kiến phương Bắc, tiếng Việt bị chèn ép nặng nề. Nhưng, gần một nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, xét riêng về mặt ngôn ngữ, cũng là thời gian đấu tranh để bảo tồn và phát triển tiếng nói của dân tộc.

| Trong quá trình bảo tồn và phát triển tiếng nói của dân tộc, tiếng Việt đã vay mượn rất nhiều từ ngữ Hán theo chiều hướng chủ đạo là Việt hóa, trước hết là về mặt âm đọc, sau đó là về mặt ý nghĩa và phạm vi sử dụng. Qua nhiều thế kỉ, người Việt đã xác lập được cách đọc chữ Hán riêng biệt, gọi là cách đọc Hán Việt, còn ý nghĩa và kết cấu thì vẫn giữ nguyên như: tâm, tài, đức, mệnh, độc lập, tự do, gia đình, hạnh phúc… Đặc biệt, nhiều từ ngữ Hán được Việt hóa dưới hình thức sao phỏng, dịch nghĩa ra tiếng Việt. Ví dụ: đan tâm thành lòng son; cửu trùng thành chín lần, chín tầng; lồng nhan thành má hồng; thanh thiên thành trời xanh; thanh sử thành sử xanh… Nhiều từ Hán đã được dùng như yếu tố tạo từ để tạo ra nhiều từ ghép chỉ thông dụng trong tiếng Việt. Ví dụ:

sĩ diện          (Hán + Hán)

bao gồm       (Hán + Việt)

sống động    (Việt + Hán)

Những cách thức Việt hóa đó vẫn được tiếp tục đã làm phong phú cho tiếng Việt cả ở những thời kì sau này và cho đến tận ngày nay.

2. Tiếng Việt dưới thời kì độc lập tự chủ

Nhà nước phong kiến độc lập được xây dựng và củng cố, Nho học được đề cao và giữ vị trí độc tôn. Việc học ngôn ngữ – văn tự Hán được các triều đại Việt Nam chủ động đẩy mạnh. Một nền văn chương chữ Hán mang sắc thái Việt Nam hình thành và phát triển. Những sự việc trên, nhìn chung, trên thực tế đã không ngăn chặn sự trưởng thành và phát triển của tiếng Việt, mà trái lại, nhờ những hoạt động ngôn ngữ – văn hóa được đẩy mạnh, tiếng Việt ngày càng thêm phong phú, tinh tế, uyển chuyển. Dựa vào việc vay mượn một số yếu tố văn tự Hán, một hệ thống chữ viết đã được xây dựng nhằm ghi lại tiếng Việt. Đó là chữ Nôm. Nhờ có chữ Nôm, ngày nay chúng ta có thể thấy được khá cụ thể diện mạo của tiếng Việt văn học, muộn nhất là từ thế kỉ XIII trở đi.

Với chữ Nôm, tiếng Việt ngày càng khẳng định những ưu thế của mình trong sáng tác thơ văn, ngày càng trở nên trong sáng, tinh tế, phong phú. Ví dụ như:

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,

Đường bên cầu cỏ mọc còn non.

Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,

Bộ khôn bằng ngựa, thủy hôn bằng thuyền.

(Chinh phụ ngâm, bản dịch)

Hoặc như:

Long lanh đáy nước in trời,

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

(Nguyễn Du – Truyện Kiều)

Tiếng Việt ở thời kì này đã rất gần với tiếng Việt thời hiện đại.

3. Tiếng Việt trong thời kì Pháp thuộc

Chữ Hán mất địa vị chính thống, nhưng tiếng Việt vẫn tiếp tục bị chèn ép bởi tiếng Pháp đã thành ngôn ngữ hành chính, ngoại giao, giáo dục. Nhưng sự thông dụng của chữ quốc ngữ và việc tiếp nhận những ảnh hưởng tích cực của ngôn ngữ – văn hóa phương Tây (chủ yếu là ngôn ngữ – văn hóa Pháp) đã tạo điều kiện cho tiếng Việt phát triển cùng với sự phát triển của văn học văn xuôi, thơ mới, văn nghị luận, kịch…) và báo chí. Nhiều từ ngữ, thuật ngữ mới đã được sử dụng,

tuy chủ yếu vẫn là từ Hán Việt (như chính đảng, giai cấp, kinh tế, hiện thực, lãng mạn…, bán kính, ẩn số…), hoặc từ gốc Pháp (như săm lốp, axit, badơ, ôxi…). Những hoạt động sôi nổi của văn chương, báo chỉ làm cho tiếng Việt càng thêm phong phú, uyển chuyển. Tiếng Việt còn góp phần tích cực vào công cuộc tuyên truyền cách mạng, kêu gọi toàn dân đoàn kết đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước. Tiếng Việt ngày càng tỏ rõ tính năng động và tiềm năng phát triển dồi dào, đủ sức vươn lên đảm đương trách nhiệm nặng nề trong giai đoạn mới. Riêng về lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, tiếng Việt cũng tỏ rõ khả năng thích ứng cao trong việc xây dựng thuật ngữ khoa học, như quyển Danh từ khoa học năm 1942 của Hoàng Xuân Hãn. 4. Tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

| Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đem lại cho tiếng Việt vị trí xứng đáng của mình trong một nước Việt Nam độc lập, tự do. Chức năng xã hội của tiếng Việt được mở rộng. Nó đã thay thế hoàn toàn tiếng Pháp trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và của toàn dân, kể cả lĩnh vực đối ngoại. Tiếng Việt được dùng ở mọi bậc học (từ phổ thông cho tới đại học, và sau này là trên đại học) và ở mọi lĩnh vực nghiên cứu khoa học từ thấp tới cao. Được coi như ngôn ngữ quốc gia, tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ đa chức năng như ngôn ngữ của các nước tiên tiến trên thế giới, góp phần tích cực vào những hoạt động rộng lớn, nhằm nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, khoa học – kĩ thuật chung cho cả khối cộng đồng nhiều dân tộc, giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

II. CHỮ VIẾT CỦA TIẾNG VIỆT

Theo truyền thuyết và dã sử, từ thời xa xưa, người Việt cổ đã có chữ viết riêng, nhưng cho đến nay, chúng ta chưa tìm thấy dấu tích rõ ràng của thứ chữ viết ấy. Lịch sử chỉ ghi lại hai thứ chữ viết của tiếng Việt: chữ Nôm và chữ quốc ngữ.

1. Chữ Nôm

Cùng với sự du nhập và truyền bá ngôn ngữ – văn tự Hán, chữ Nôm đã xuất hiện. Chữ Nôm là một hệ thống chữ viết ghi âm, dùng chữ Hán hoặc bộ phận chữ Hán được cấu tạo lại để ghi tiếng Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết, trên cơ sở cách đọc chữ Hán của

người Việt (âm Hán Việt). Nhờ có chữ Nôm, nhiều chứng tích của tiếng Việt cổ xưa đã được bảo tồn, nhiều tác phẩm văn học có giá trị đã được lưu truyền. Có thể khẳng định rằng chữ Nôm là một thành quả văn hóa lớn của dân tộc. Tuy nhiên, hệ thống chữ viết này còn có nhiều nhược điểm. Chữ Nôm không thể đánh vần được, học chữ nào biết chữ ấy. Muốn học chữ Nôm một cách thuận lợi thì lại phải có một vốn chữ Hán nhất định. Mặc dầu vậy, chữ Nôm cũng đã tồn tại trong nhiều thế kỉ của thời phong kiến cho đến cuối thế kỉ XIX và tạo nên một nền văn học chữ Nôm khá phong phú của thời trung đại (bên cạnh bộ phận văn học chữ Hán).

2. Chữ quốc ngữ

Những nhược điểm của chữ Nôm đã được khắc phục bằng chữ quốc ngữ. Vào nửa đầu thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây đã dựa vào bộ chữ cái La-tinh để xây dựng một thứ chữ mới ghi âm tiếng Việt, nhằm phục vụ cho việc truyền giảng đạo Thiên Chúa, sau này được gọi là chữ quốc ngữ. Nhiều thế hệ người Việt Nam cũng đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chữ viết mới mẻ này. Nhờ có chữ quốc ngữ ở thời kì đầu, chúng ta cũng đã thấy được một số nét cổ xưa của tiếng Việt. Ví dụ:

XƯA                 NGÀY

bó ngựa          vó ngựa

blái núi            trái núi

mlát chém       nhát (lát) chém

mlời                   lời

Trong vòng gần hai thế kỉ tiếp theo, chữ quốc ngữ được cải tiến từng bước và cuối cùng đã đạt tới hình thức ổn định và hoàn thiện ngày nay. Chữ quốc ngữ là thứ chữ đơn giản về hình thể kết cấu, sử dụng các chữ cái La-tinh vốn rất thông dụng trên toàn thế giới. Ở chữ quốc ngữ, giữa chữ và âm, giữa cách viết và cách đọc có sự phù hợp ở mức độ khá cao. Chữ quốc ngữ dễ học và dễ đọc: chỉ cần học thuộc bảng chữ cái và cách ghép vần là có thể đọc được tất cả mọi chữ trong tiếng Việt.

Đầu thế kỉ XX, việc sử dụng chữ quốc ngữ được đẩy mạnh. Những người yêu nước trong phong trào Duy tân đã thấy được ở chữ quốc ngữ những khả năng to lớn của một phương tiện mở mang dân trí. Báo chí thời đó có những vần thơ cổ động cho thứ chữ này:

Trước hết phải học ngay quốc ngữ Khỏi đôi đường tiếng chữ khác nhau. Chữ ta ta đã thuộc làu

Nói ra nên tiếng nên câu nên lời… Trong quá trình đấu tranh cách mạng để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, Đảng ta rất chú ý đến việc phổ cập chữ quốc ngữ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào “Truyền bá quốc ngữ” với tổ chức là Hội truyền bá quốc ngữ được triển khai rộng rãi và thu được nhiều kết quả khả quan.

Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Từ đó, cùng với tiếng Việt, chữ quốc ngữ cũng đã giành được địa vị xứng đáng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước ta.

III. LUYỆN TẬP

Câu 1

Gợi ý: tìm trong bài học của SGK và có thể tìm thêm những ví dụ khác ngoài SGK.

Nêu cảm nhận của bản thân về những ưu điểm (tiện ích) của chữ quốc ngữ.

Câu 2

Gợi ý: Ba cách thức đặt thuật ngữ khoa học là:

– Phiên âm thuật ngữ khoa học của phương Tây (axit, amíp…)

– Vay mượn thuật ngữ khoa học – kĩ thuật qua tiếng Trung Quốc, đọc theo âm Hán Việt (sinh quyển, môi sinh…)

– Đặt thuật ngữ thuần Việt, dịch ý hoặc sao phỏng (vùng trời thay cho không phận; thiếu máu thay cho bẩn huyết; âm gốc lưỡi, nồi hơi, máy thổi lò cao…)

 Các em tìm thêm những ví dụ khác để minh họa cho ba cách thức đặt thuật ngữ khoa học trên đây.

 

 

 

 

This div height required for enabling the sticky sidebar
Tài Liệu Chùa